<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274</id><updated>2011-09-02T04:06:47.002-07:00</updated><title type='text'>TRẬN CHIẾN BÍ-MẬT / CHIẾN TRANH BÍ MẬT / NHA KỸ THUẬT BTTM - QLVNCH Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát Số 1</title><subtitle type='html'>Nha Kỹ Thuật / Lực Lượng Đặc Biệt - Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa</subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>42</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-663234868374338310</id><published>2009-12-01T10:33:00.000-08:00</published><updated>2010-07-22T17:34:16.257-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;script language="JavaScript" src="http://pub16.bravenet.com/counter/code.php?id=405502&amp;amp;usernum=1340045908&amp;amp;cpv=2" type="text/javascript"&gt;&lt;/script&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sxizlf4a-OI/AAAAAAAAIqc/ackmaQ1YNtI/s1600-h/vnchflyer.jpg" onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5411272409080330466" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sxizlf4a-OI/AAAAAAAAIqc/ackmaQ1YNtI/s400/vnchflyer.jpg" style="cursor: pointer; display: block; height: 383px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 250px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SxVj6BZtlLI/AAAAAAAAIo8/L-mE-3PoN5s/s1600/6740_2.jpg"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5410340375815361714" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SxVj6BZtlLI/AAAAAAAAIo8/L-mE-3PoN5s/s400/6740_2.jpg" style="display: block; height: 190px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 200px;" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;I. LỜI GIỚI THIỆU.&lt;br /&gt;Kể từ lâu, năm 1957 đã có quân của LLÐB/HK tại Việt-Nam, lúc đó họ chỉ làm nhiệm-vụ huấn-luyện, cố-vấn và giúp-đỡ quân-đội VNCH. Các biệt-kích mũ xanh phải tình nguyện hai lần, lần đầu học nhẩy dù và sau đó học về LLÐB. Trong năm 1957, ngày 24 tháng sáu, liên-đoàn 1LLÐB được thành lập tại Okinawa và gửi sang Việt-Nam huấn luyện cho 58 quân nhân Việt-Nam tại Trung-tâm huấn-luyện Biệt-Ðộng-Ðội ở Đồng Đế Nha Trang. Những sĩ quan thụ huấn đó sau này trở thành huấn luyện viên hoặc cán bộ nồng cốt cho các đơn-vị đầu tiên của LLÐB/VN. Mười năm sau LLÐB cố-vấn và yểm trợ cho hơn 40.000 Dânsự Chiến-đấu, hoạt động trên khắp lãnh thổ miền nam Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;II. PHÁT TRIỂN.&lt;br /&gt;Trong năm 1959, 1960 với sự bành trướng của Việt cộng, gia tăng các vụ phá hoại, khủng bố gây nên tình trạng bất an nơi thôn quê, hẻo lánh. Quân đội Hoa Kỳ gửi thêm ba mươi huấn luyện viên LLÐB từ căn cứ Fort Bragg sang nam Việt Nam để tổ chức một chương trình huấn luyện cho QLVNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 21 tháng chín 1961, tổng-thống John F. Kenedy tuyên bố sẽ tăng thêm ngân khoản viện trợ quân-sự, kinh tế cho Việt Nam. Chính quyền Hoa-Kỳ lo ngại về vấn đề xâm nhập người và vũ-khí của quân cộng-sản vào miền nam, do đó phải tìm cách ngăn chặn sự xâm nhập này. Các toán A Lực-lượng Ðặc-biệt được giao phó cho trách nhiệm tổ chức và huấn-luyện những dân-tộc thiểu-số phá hoại, ngăn chặn đường xâm nhập của địch từ bắc vào nam. Về sau những lực lượng võ trang này được gọi là Dân-sự Chiến-đấu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Liên-đoàn 5 LLÐB/HK được gửi sang Việt Nam và hoàn toàn chịu trách nhiệm cho các hoạt-động, hành quân đặc biệt tại miền nam. Lực-lượngÐặc-biệt được Lục quân Hoa-Kỳ tổ chức nhằm thích ứng cho các cuộc hành quân ngoại lệ và đã được định nghiã như 'ba khía cạnh liên-hệ trong du kích chiến, trốn tránh và đào tẩu, gậy ông đập lưng ông chống lại kẻ thù'. Chiến tranh ngoại-lệ được định nghiã như sau ' Hoạt động ngay trong lòng địch, hoặc những nơi địch kiểm soát'.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cơ-cấu tổ chức căn bản của Liên-đoàn Lực-lượng Ðặc biệt gồm có một bộ chỉ huy đầu não, ban chỉ huy các đại đội, ba đại-đội hoặc nhiều hơn, một đại đội truyền tin và một phi-đoàn yểm trợ. Các bộ, ban chỉ huy gồm đủ các ban tham-mưu để chỉ huy và theo-dõi, thêm phần quân-y,và đơn vị tiếp-tế thả dù. Ðạiđội LLÐB thường do một sĩ quan cấp bậc trung-tá chỉ huy, thường gồm có một ban tham mưu và một BCH hành-quân C, bộ chỉ huy này sẽ chỉ huy ba BCH/HQ B, mỗi BCH/HQ B sẽ chỉ huy bốn toán A. Toán A là một đơn-vị căn bản mười hai người của LLÐB.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;III. LỰC LƯỢNG DÂN SỰ CHIẾN ÐẤU.&lt;br /&gt;Có hai lý do cho việc tổ chức DSCÐ. Người Hoa Kỳ tin rằng nên võ trang nhóm dân tộc thiểu số để chống lại sự xâm nhập của quân cộng-sản. Lý do thứ hai, người Thượng và các sắc dân thiểu số là mục tiêu chính cho chủ thuyết tuyên truyền của cộng-sản, họ không hài lòng về chính quyền quốc-gia, rất dễ bị địch lợi dụng, tuyển mộ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng Chín 1962, bộ chỉ huy LLÐB tại Việt-Nam được thành lập và trực thuộc Bộ Chỉ-Huy Quân-Viện. Ðến tháng mười 1962, có tất cả hai mươi bốn toán LLÐB/HK hoạt động trên miền nam Việt- Nam. Tháng mười một 1962,LLÐB/HK tại Việt-Nam được tổ chức gồm có một BCH C, ba BCH B và hai mươi sáu toán A. Ngoài ra còn có một bộ chỉ huy đặt tại Saigon. BCH C không làm việc bình thường trên phương diện chỉ huy, điều hành mà làm nhiệm-vụ như phần mở rộng của BCH trung-ương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời gian từ tháng mười hai 1962 đến tháng hai 1963, BCH/LLÐB/HK hoàn toàn chịu trách nhiệm chỉ huy các hoạt động của các toán A tại Việt-Nam. Lúc đó các toán A đã thiết lập các trại Dân-sự Chiến-đấu trên khắp bốn quân khu. Một BCH B được thành lập trên mỗi vùng chiến thuật để phối hợp với hệ thống chỉ huy của QLVNCH và chỉ-huy các toán A. Các toán A được xử dụng tạm thời lấy từ Liên-đoàn 1 từ Okinawa, và Liên-đoàn 5, 7 LLÐB từ Fort Bragg, North Carolina. Ðến tháng mười hai 1963, các toán A phối hợp với LLÐB Việt-Nam đã huấn luyện và võ trang cho 18000 người thuộc lực lượng xung kích và 43000 người phòng vệ dân-sự. Tháng hai 1963, bộ chỉ huy LLÐB/HK từ Saigon dời đi Nha-Trang do hai điều thuận-lợi, thứ nhất, Nha-Trang nằm vào khoảng giữa từ vĩ-tuyến 17 đến cuối miền nam, dễ điều hành các toán A nằm rải rác khắp miền nam Việt Nam. Thứ hai, vị trí nơi biển dễ nhận đồ trang bị, tiếp liệu đến từ Okinawa và phi trường, đường xá có sẵn cho vấn đề tiếp vận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối năm 1964, Lực lượng Dân-sự Chiến-đấu không còn là vấn đề phát triển nữa. Mục đích và nhiệm vụ cũng thay đổi, không ngoài việc phòng vệ xóm làng, các trại DSCÐ được xử-dụng làm căn cứ cho các cuộc hành quân tấn công vào sào huyệt địch. Sự thay đổi lớn thứ hai nhằm tăng phần hiệu qủa cho việc kiểmsoát biên giới, LLÐB/HK xây thêm một số trại Biên-phòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc hành quân Switchback (11-62 đến 0762), các hoạt động tấn công thuộc lực lượng xung-kích DSCÐ bao gồm phục-kích, tuần-tiễu, thám-sát trong khu vực trách nhiệm của mỗi trại. Ngoài ra những cuộc hành quân phối hợp với các đơn-vị VNCH bao gồm LL/DSCÐ thuộc nhiều trại. Trong tháng sáu, bốn đại đội xung kích DSCÐ lấy từ các trại Ðak-To, Plei-Mrong và Polei Krong phối hợp hành quân lùng địch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quân cộng-sản phản-ứng bằng cách pháo kích, quấy rối các trại biên-phòng. Trong cuộc hành-quân Switchback, các hoạt-động địch gia tăng, hầu hết các trại đều bị bắn quấy rối. Ngày 3 tháng giêng 1963, đặc-công cùng hai đại đội CSBV tấn công và tràn ngập trại Plei-Mrong. Vấn đề phòng thủ các trại biên-phòng được xét lại, Bộ chỉ-huy Quân Viện ra lệnh cho các toán A thiết lập thêm tuyến phòng&lt;br /&gt;thủ thứ hai cho tất cả các tiền đồn. LLÐB/HK được tăng cường thêm hai tiểu-đoàn Công-binh Hải-quân (Seabee) phụ gíup trong việc xây cất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc xử-dụng LL/DSCÐ bao gồm các hoạt động tuần-tiễu, lục soát ra ngoài phạm vi trách nhiệm của trại thường cần có những căn cứ tiền phương và lực lượng tiếp-ứng. Một lực lượng xung-kích 20000 quân được thành lập bắt đầu từ tháng mười một 1963 và hoàn tất vào tháng bẩy năm 1964. Mỗi đại đội DSCÐ có 150 người gồm bộ chỉ huy 10 người và ba trung đội khinh-binh 35 người, trung đội súng nặng 35 người. Mỗi trại có quân số bốn đại đội. Hai đại đội hoạt động bên ngoài từ những căn cứ tiền phương, tung các trung đội và các toán viễn-thám năm người ra hoạt động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng giêng 1965, trước khi Hoa-Kỳ đem thêm quân vào chiến trường miền nam. Kế hoạch chống xâm nhập được xác định rõ ràng gửi đi từ bộ chỉ huy liên-đoàn 5 LLÐB/HK tới các BCH B và các toán A như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðịnh nghiã:&lt;br /&gt;Kế hoạch chốngxâm nhập của LLÐB là một chương trình hỗn hợp quân-sự và dân-sự vụ, được tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu sau đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(a) Loại trừ Việt cộng, thiết lập vùng an-ninh.&lt;br /&gt;(b) Bảo đảm sự kiểm soát của chính quyền quốc gia đối vớidân trong vùng.&lt;br /&gt;(c) Ðộng viên những người dân hăng hái, sẵn sàng tham gia trong các chương trình của chính quyền quốc gia. &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Những mục tiêu nói trên có thể đạt được khi thi hành một trong ba nhiệm vụ sau:&lt;br /&gt;(1) Kiểm soát và theo dõi biêngiới.&lt;br /&gt;(2) Hoạt động nơi các đường xâm nhập.&lt;br /&gt;(3) Hành quân nơi chiến khu, căn cứ của địch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bắt đầu từ năm này, quân cộng-sản đã thay đổi chiến thuật từ du-kích sang trận-địa chiến. Các hoạt động củaLLÐB được phân làm ba loại.Một, thiết lập thêm trại DSCÐ nhằm ngăn chặn mức độ chuyển quân, tiếp vận của địch, bỏ một số trại do áp lực quá nặng của địch và phòng thủ các trại dọc theo biên giới như A-Shau, Lang-Vei, Cồn-Thiên, Lộc-Ninh, Bù-Ðốp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thứ hai, mở các cuộc hành quân ngoại lệ như Hành-quân Delta trong vùng I chiến thuật. Hành quân Black-Jack 33 ở vùng III trong kế-hoạch Hành-quân Sigma. Ðây là cuộc hành quân đầu tiên phối hợp giữa đơn-vị du-kích lưu động và đơn vị xung-kích tiếp ứng. Hành-quân Black-Jack 41, hai đại đội xung-kích lưu động nhẩy dù xuống tấn công căn cứ địch trong vùng núi Thất Sơn dưới vùng IV. Một&lt;br /&gt;đơn-vị xung-kích khác tảo thanh nơi Suối Ðá trong vùng III loại khỏi vòng chiến một tiểu-đoàn Việt cộng trong hành quân Attleboro.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối cùng là những cuộc hành quân phối hợp với các đơn vị chính-quy bạn. Hành quân Nathan Hale phối hợp giữa DSCÐ, sư-đoàn 1 Không-Kỵ và sư-đoàn 101 Dù Hoa-Kỳ. Hành quân Henry Clay và Thayer. Hành quân Rio Blanco ở vùng I bao gồmcác đơn-vị thuộc DSCÐ, Ðiạphương-quân, Biệt-động-quân Việt-Nam, Thuỷ quân lục chiến Ðại-Hàn, và TQLC/HK. Hành quân Sam Houston trên vùng II phối hợp giữa sư-đoàn4 Bộ-binh Hoa-Kỳ và DSCÐ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;IV. HÀNH QUÂN NGOẠI LỆ.&lt;br /&gt;Với sự thành lập các đơn vị du-kích lưu-động và Hành quân Sigma, Omega trong thời gian từ tháng tám cho đến tháng mười năm 1966, khả năng về Chiến-tranh Ngoại lệ của LLÐB gia tăng. Một trong những đặc tính củaLLÐB là khả năng mở các cuộc hành quân ngắn hoặc lâu dài nơi vùng địch kiểm soát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lực-lượng Du-kích lưu-động được thành lập vào mùa thu 1966, cải tiến và phát triển từ quan niệm về đơn-vị xung kích lưu-động. Những đơn-vị du-kích này được tổ chức, huấn-luyện và trang-bị để hoạt-động xa, nơi Việt cộng hoặc Bắc quân xem như thiên đàng. Trang bị nhẹ, các quân nhân thuộc đơn-vị này xâm nhập vào vùng địch, do-thám đường mòn, tìm kiếm dấu vết, căn-cứ địch, thâu lượm tin tức&lt;br /&gt;tình báo về những cuộc chuyển quân của địch. Khi phát giác ra nơi đóng quân của địch, toán du-kích sẽ theo dõi các hoạt động của địch, phục kích lẻ-tẻ, quấy rối, đặt mìn bẫy. Trường hợp tìm thấy kho tiếp liệu, toán sẽ tìm cách phá hủy hoặc hướng dẫn phi cơ oanh kích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một đơn-vị du-kích thường được đưa vào vùng hoạt động bằng tất cả mọi phương tiện có sẵn. Khi đã vào vùng, đơnvị thực sự trở nên du-kích quân. Ðồ tiếp tế được thực hiện qua không trợ. Ðơn vị này thường hoạt động trong lòng địch một thời gian từ ba mươi đến sáu mươi ngày. Họ trở thành những 'Chủ nhân ông' trong khu vực hoạt động, được toàn quyền hành động kể cả vấn đề không trợ, để đạtmục tiêu. Ðể tránh bị lộ hành tung, đôi khi phải cho đồ tiếp tế vào bom Napalm giả do khu trục cơ A1E Skyraider thả xuống trong một phi vụ oanh kích gỉa tạo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài việc phát triển đơn-vị du-kích cho mỗi vùng chiến thuật. Liên-đoàn 5 LLÐB/HK còn tổ chức thêm những cuộc hành quân ngoại-lệ khác như Hành-quân Omega và Sigma. Hai tổ chức hành quân trên làm tăng thêm khả năng viễn thám, thâu lượm tin-tức tình báo của liên-đoàn ngoài tổ chức Hành-quân Delta đã có sẵn. Mỗi tổ chức có quân số khoảng 600 người, gồm một đơn-vị viễn-thám và một đơnvị xung-kích tiếp-ứng, thêm một toán cố-vấn tổ chức như BCH B của LLÐB.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hành quân Delta được đặt dưới quyền chỉ huy hỗn hợpLLÐB Việt-Mỹ và theo lệnh trực tiếp của Bộ Tổng-thammưu QLVNCH và BCH Quân Viện Hoa-Kỳ (MAC-V). Các toán hành quân Delta được tiểu-đoàn 91 Biệt-cách-dù sẵn sàng làm lực-lượng tiếp-ứng yểm-trợ. Các toán hành-quânOmega và Sigma được LLÐB trực tiếp chỉ huy và chỉ chịu trách nhiệm hoạt động ngoài vùng I và II chiến thuật. Các toán này được các đơn vị xung-kích lưu-động thuộc lực lượng DSCÐ yểm trợ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;V. HUẤN LUYỆN VÀ KHÔNG TRỢ&lt;br /&gt;Chương trình huấn-luyện cho các cuộc hành-quân ngoại-lệ trước hết là phần huấn luyện về bộ-binh, kỹ thuật tác chiến trong vùngÐông-nam-Á. Những quân nhân được tuyển chọn cho hành-quân ngoại-lệ thường đã trải qua thời gian phục-vụ trong lực-lượng DSCÐ và đã có kinh nghiệm chiến-đấu. Phần huấn luyện kỹ thuật hành quân ngoại-lệ bắt đầu từ giai đoạn này. Ðầu tiên là phải qua khóa huấn luyện nhẩy-dù, sau đó là các môn học đặc biệt về hành quân như: di-chuyển lặng-lẽ, bí mật, phương-pháp tìm dấu vết, theo-dõi, cách xử-dụng bản đồ, điạ bàn, dụng-cụ làm dấu, những kỹ thuật xâm nhập, triệt-thoái vùng thámsát, hoạt-động, xử dụng các loại vũ-khí đặc biệt, cứu thương, kỹ thuật đột-kích, phục kích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chương trình huấn luyện kéo dài năm hay sáu tuần-lễ, sáu ngày một tuần và khoảng mười tiếng đồng hồ mỗi ngày. Các buổi huấn luyện trong căn-cứ và thực tập ngoài bãi tập.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vấn đề hành-quân ngoại lệ rất cần phần không trợ. Phi đoàn không-yểm thuộc Lục quân Hoa-Kỳ biệt phái choLiên-đoàn 5 LLÐB đã yểm trợ trực tiếp bằng những trực thăng võ trang và chuyển vận. Ngoài ra Không lực Hoa-Kỳ cung cấp phương tiện chuyển vận, đổ quân cấp đơn-vị lớn và về tiếp liệu. Không lực Hoa-Kỳ và Việt Nam còn yểm trợ thêm về phần oanh-kích hoặc chuyển tiếp công-điện qua hệ thống truyền tin. Ngoài vùng I chiến thuật, máy bay của Thuỷ quân Lục chiến Hoa-Kỳ cũng cung cấp những phương tiện yểm trợ tương tự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;VI. SOẠN THẢO KẾ HOẠCH HÀNH QUÂN.&lt;br /&gt;Chiến tranh ngoại lệ là một vai trò rất quan-trọng củaLLÐB trên chiến trường nam Việt Nam. Ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt, mỗi cuộc hành quân đều được soạn thảo, điều nghiên kỹ-lưỡng trước khi thực hiện và lực lượng tham-dự được di chuyển đến căn cứ tiền phương trước khi ra tay. Thời gian dành cho soạn thảo kế hoạch, chuyển quân tuỳ theo mỗi loại hành quân và độ khẩn của cuộc hành quân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Soạn thảo lệnh hành quân bắt đầu với đầy đủ chi tiết tình báo về khu vực hành quân. Mọi dữ kiện về điạ thế, thời tiết và những nơi tình nghi có quân địch đều được thâu thập và phân tích. Tất cả những chi tiết đó đều được ghi trên bản đồ, những lộ trình chính và phụ cho nhiệm-vụ trinh sát đều được chọn lựa và đánh dấu. Nguồn tin tức thường được lấy từ các bản báo cáo về tình-báo, không ảnh, thẩm vấn&lt;br /&gt;tù binh, và những bản báo cáo của các đơn-vị bạn đã hành quân qua trước đây. Nếu cần, ban tham mưu soạn thảo lệnh hành quân bay những phi-vụ thám thính khu vực hoạt động trước. Những chuyến bay này rất quan trọng cho quyết định cuối cùng chọn điểm xâm nhập, triệt xuất, chính và phụ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi việc soạn thảo, điều nghiên đã hoàn tất, lệnh hành-quân sẽ được ban ra. Kế tiếp là việc chuẩn bị hành quân, trường-hợp cần thiết phải chuyển quân, vật liệu đến một căn cứ tiền phương đã có không yểm. Nếu chỉ là một toán nhỏ, ít vật liệu, phi cơ trực thăng của Lục quân, TQLC/HK hoặc phi-cơ nhỏ được xử dụng. Nếu cuộc hành quân với quân số cấp đại đội hoặc lớn hơn sẽ được Không lực Hoa-Kỳ cung cấp với loại phi-cơ vận tải C-7A hoặc C130. Khi đến căn-cứ hành-quân tiền phương, đơn-vị sẽ bị thanh-tra để có thể trong vị thế sẵn sàng. Các sĩ quan thuộc quyền sẽ được nghe thuyết trình về mục đích, nhiệm-vụ của cuộc hành quân cùng vớí mệnh-lệnh chi tiết cho từng trung đội, tiểu-đội hoặc toán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong những nhiệm-vụ thám sát, các phương-pháp, thủ tục cho mỗi hoạt-động sẽ được trình bầy chi-tiết tùy theo cuộc hành quân. Khi vào vùng địch, lúc ra khỏi phi-cơ, di chuyển trong khu vực hành quân, trường hợp chạm địch, và giờ giấc cho vấn đề triệt xuất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự thành công trong chiến tranh ngoại lệ tùy thuộc rất nhiều vào yếu-tố bất ngờ. Thêm vào phần an-ninh của toán biệt-kích, nhiều lúc cần phải tìm cách đánh lừa địch quân. Lừa đối phương cũng là một phần quan trọng trong các cuộc hành quân. Tùy theo tình hình, thời tiết, mùa màng và quân số trong cuộc hành quân mà thực hiện các chuyến xâm nhập bằng đường bộ, không hoặc thủy. Tuy nhiên trên chiến trường Việt-Nam, hầu hết các cuộc xâm nhập, triệt xuất đều thực hiện bằng phương tiện trực thăng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kinh nghiệm cho biết, thời gian hữu hiệu nhất để thả toán xâm nhập vào lúc trời sắp tối, đủ thì-giờ cho toán lẩn vào bóng tối và trực thăng được bảo vệ bởi bầu trời đen. Tuy vậy, địch quân vẫn khám phá ra phương pháp thả toán của ta và tìm cách đối phó. Do đó phải đánh lừa địch về điểm thả quân, trực thăng sẽ đáp xuống ba chỗ hay hơn nữa trước khi thực sự thả toán. Ðiều này làm cho địch phân vân&lt;br /&gt;không biết đâu là điểm thả quân một cách chính xác. Một phương pháp khác là đoàn trực thăng ba chiếc bay thấp, nối đuôi nhau, chiếc bay đầu bất ngờ đáp xuống thả toán biệt-kích trong chớp nhoáng rồi bốc lên nhanh nối vào đuôi hai chiếc kia làm thành hợp đoàn ba chiếc trở lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong trường hợp thả toán bằng đường bộ, các toán 'Chạy đường mòn   (Roadrunner), viễn thám xâm nhập vùng địch dễ dàng lúc trời tối hoặc ngay lúc ban ngày trong trường hợp căn cứ vẫn thường tung các toán ra tuần tiễu, lục soát mà không theo một phương hướng nhất định. Trong trường hợp khác, toán viễn thám đi xen vào với một đơn vị lớn. Khi thấy an toàn, toán biệt-kích lặng lẽ di chyển đến vùng hoạt động đã được trao phó nhiệm-vụ từ trước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả mọi sự di-chuyển trong chiến tranh ngoại lệ đều được soạn thảo cẩn thận. Sự sống còn của một toán viễn thám nhỏ tùy thuộc vào mỗi cá nhân trong toán. Sự hiểu biết về nhiệm-vụ của từng người, đề cao cảnh giác, theo đúng thời khóa biểu lúc di chuyển. Trong kế hoạch hành quân đôi khi có dặn dò thêm trường hợp toán phải phân tán tạm thời trước áp lực của địch, thời gian, vị trí của điểm hẹn,&lt;br /&gt;tập-họp. &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Bí mật là đặc tính căn bản trong vấn đề di chuyển của các đơn-vị hành quân ngoại lệ. Mặc dầu địch cũng đề phòng về sự hiện diện của biệt-kích quân, điều quan trọng là địch vẫn không biết rõ vị trí chính xác của toán. Mọi di chuyển phải im-lặng, bàn tay và thủ hiệu được xử dụng để truyền tin và ban lệnh thay cho lời nói, ít xử dụng máy truyền tin và để độ âm thanh tối thiểu, súng đạn đồ trang bị gọn gàng không gây tiếng động khi chạm vào cây lá hơặc đá và tuyệt-đối giữ im lặng khi di chuyển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về vấn đề tái tiếp tế cũng được đặt ra, các quân nhân trong chiến tranh ngoại lệ không thể mang theo đồ ăn, đạn dược và vật dụng quá năm ngày. Tùy theo mỗi cuộc hành quân, kế hoạch hành quân cũng nói đến vấn đề tái tiếp tế trong vòng từ ba đến năm ngày tại một địa điểm định trước. Vấn đề đặt ra là sự an-toàn, không để lộ vị trí của toán. Thả dù tiếp tế ban ngày sẽ làm cho địch báo động, đề phòng. Thả ban đêm trong vùng rừng núi, cơ hội thâu hồi kiện hàng rất ít.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Triệt xuất theo đúng hạn kỳ hoặc trong trường hợp khẩn cấp phải đem về một người bị tai nạn bất tử hay cả toán cũng phải tính trước. Lựclượng Ðặc biệt rất thành công từ lúc đầu cho đến giữa năm 1967, hầu hết các toán đều thi hành nhiệm vụ đúng theo hoạch định, hết thời gian, ra điểm hẹn để trực thăng bốc đem về. Những toán 'Chạy đường mòn', viễn thám rất dẽ bị địch tiêu diệt do đó nhân viên trong bộ chỉ huy có nhiệm vụ theo dõi hoạt động của toán phải chuẩn bị sẵn sàng vấn đề triệt xuất toán trong vùng địch ngay tức khắc khi nhận được báo cáo 'khẩn'.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;VII. CÁC CĂN CỨ / BỘ CHỈ HUY LỰC LƯƠNG ÐẶC BIỆT. B-50 LLÐB &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;(HÀNHQUÂN OMEGA).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dựa trên sự thành công của các cuộc hành quân Delta và nhu cầu chiến trường, bộ chỉ huy B-50 Lực lượng Ðặc biệt tổ chức Kế-hoạch Hành-quân Omega vào tháng bẩy năm 1966 và đặt tại Nha Trang. Hành quân Omega trực tiếp đảm nhận những cuộc hành quân viễn-thám, thâu thập tin tức tình báo tác chiến, tuy nhiên không như Delta trực thuộc bộ Tổng-tham-mưu và bộ tư-lệnh Quân-viện Hoa-Kỳ, hành quân Omega được thực hiện trên vùng I chiến thuật kể từ ngày 1 tháng chín năm 1967. B-50 LLÐB tuyển mộ các sắc tộc thuộc bộ-lạc người Jah, Rhade và Sedang, người gốc Chàm và Tầu. Ban đầu gồm có tám toán viễn-thám và bốn toán 'Chạy đường mòn', sau đó tăng lên mười sáu toán viễn-thám và tám toán 'Chạy đường mòn'. Trong năm 1968, các toán 'Chạy đường mòn' thuyên-chuyểnqua B-57 LLÐB tiếp tục các hoạt động tuần tiễu lấy tin tức. Hành quân Omega có ba đại đội xung-kích làm thành phần tiếp ứng, trừ bị. Bộ chỉ huy B-50 chấm dứt nhiệm vụ tại Việt Nam vào tháng sáu năm 1972.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;B-51 LLÐB TRUNG-TÂM HUẤN LUYỆN ÐỘNG BÀ THÌN.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðộng-ba-Thìn là trung tâm huấn-luyện của QLVNCH.Ðến năm 1964, bộ chỉ huy B51 LLÐB đến cố vấn cho chương trình huấn luyện tại trung tâm. Nhiều chương trình huấn-luyện được cải tiến theo thời gian, khóa căn-bản LLÐB Việt-Nam, khóa học Nhẩy dù của LLÐB, huấn luyện cho DSCÐ, võ Tae Kown Do Ðại-Hàn, truyền-tin và các khóa huấn luyện khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1968, B-51 LLÐB dời các khóa huấn luyện đi An-Khê, nhưng đến tháng mười1969 quay trở lại Ðộng-ba-Thìn và căn-cứ được gọi là Trung-tâm Huấn-luyện Quốc gia. Sau đó B-51 được Bộ chỉ huy Quân-viện giao cho nhiệm-vụ huấn-luyện quân đội Campuchia. Bộ chỉ huy B50 LLÐB rời Việt-Nam tháng ba năm 1971.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;B-52 LLÐB HÀNH QUÂN DELTA.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng năm 1964, cơquan tình-báo CIA khởi đầu chương trình Leaping Lena dùng LLÐB/HK huấn luyệncho LLÐB/VN và lực-lượng DSCÐ trong những nhiệm-vụ thám-sát thâu-thập tin tức. Khi chương trình phát triển, nhu-cầu về nhân lực của LLÐB/HK tăng lên cho đến tháng sáu năm 1965, khi liên đoàn 5 LLÐB/HK được giao phó thêm trách-nhiệm và bộ chỉ huy B-52 được thành thập để chỉ-huy và theo dõi các hoạt động viễn-thám. Chương trình này được gọi là Hànhquân Delta, mỗi toán thường gồm có hai quân-nhânLLÐB/HK và bốn LLÐB/VN, ngoại trừ các toán 'Chạy đường mòn' có từ bốn đến sáu quân nhân Việt, thường mặc quần áo, trang-bị như quân cộng-sản hoạt động trong vùng địch kiểm soát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bộ chỉ huy B-52 vẫn thường thay đổi lề-lối làm việc, tổ chức tùy theo nhu-cầu đòi hỏi, mới đầu chỉ có mười hai toán viễn thám LLÐB Việt-Mỹ và mười hai toán DSCÐ 'Chạy đường mòn', một đại đội phòng thủ ngườI Nùng và tiểu-đoàn 81 Biệt-cách-dù với năm đại đội làm đơn-vị xungkích tiếp ứng. Những nhiệm vụ được trao phó cho hànhquân Delta gồm có: Xác-định vị trí đơn-vị địch, thâu thập tin tức tình báo chiến lược, thẩm định sự tàn-phá cho các trận thả bom, lùng và diệt địch, đột kích và phá hoại. Bộ chỉ huy B-52 rất nổi tiếng trong suốt trận chiến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến năm 1966, chương trình Delta làm việc trực tiếp với bộ chỉ huy Quân Viên (MACV), thi hành những sứ mạng trên khắp Việt Nam. Cũng trong năm này hai chương trình khác Sigma và Omega được phát triển với nhiệm vụ tương-tự, hoạt động trên lãnh thổ vùng I và vùng II chiến thuật. Bộ chỉ huy B-52 còn được MACV giao cho nhiệm vụ huấn luyện lính Hoa-Kỳ về kỹ thuật viễn thám. B-52 đồn trú tại Nha-Trang cho đến tháng sáu năm 1970 khi chương trình Delta chấm dứt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;B-53 NHÓM CỐ VẤN HÀNH QUÂN ÐẶC BIỆT.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bộ chỉ huy B-53 được chính thức thành lập tại Việt-Nam vào tháng hai năm 1964. Lúc đó đặt tại căn cứ huấn luyệnLLÐB Việt Nam ở Long Thành. Trong thời gian tại đó, nhiều sứ mạng của đơn-vị được đề cao và bảo trợ bởi đơn-vị Nghiên-cứu Quan-sát thuộc bộ chỉ huy Quân-Viện (MACV-SOG).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi Liên-đoàn 5 LLÐB/HK rời Việt-Nam năm 1971, vấn đề huấn luyện quân Việt-Nam về chiến-tranh ngoại-lệ vẫncần thiết. B-53 LLÐB trở thành hạt nhân cho chương trình này và vào tháng giêng năm 1971được gọi là nhóm Cố-vấn Sứ-mạng Ðặc-biệt (SMAG). Nhóm mới thành lập này, lúc đầu di chuyển trường huấn-luyện viễn-thám (MACV RECONDO), sau đó lấy bộ chỉ huy Liên-đoàn 5LLÐB làm bộ chỉ huy vào tháng ba.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiêm vụ của nhóm cố-vấn này là huấn luyện, cố-vấn và phụ giúp cho đơn vị Dịch-vụ Sứ-mạng Ðặc-biệt (SpecialMission Service - SMS) của Việt-Nam, đơn vị này là tiền thân của LLÐB/VN trong chiến tranh ngoại lệ. Vào tháng chín năm 1971, đơn vị SMS được lệnh làm việc với Ðơn-vị 1, Sở Liên-Lạc QLVNCH đóng tại Ðà-Nẵng, hậu thân của bộ chỉ-huy Bắc (Sở Bắc) của nhóm Nghiên cứu, Quan-sát MACV (MACV-SOG). Cho đến tháng ba năm 1972, trong vòng mười một tháng, nhóm Cố-vấn Sứmạng Ðặc-biệt (SMAG) hoàn tất việc huấn luyện cho 27 toán hoạt-động và 15 toán viễn thám. Nhóm cố-vấn này chấm dứt nhiệm vụ vào tháng tư năm 1972 và bộ chỉ huy B53 rời Việt-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;B-55 TOÁN LIÊN LẠC TẠI SAIGON.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với sự hiện diện của LLÐB/HK từ năm 1962, nhu cầu phải có một ban liên lạc gần bộ chỉ huy Quân-Viện Hoa-Kỳ tại Saigon để dễ dàng trong việc soạn thảo, huấn luyện và chuyển những tin tứctình báo. Ðó là nhiệm vụ của toán Liên-Lạc LLÐB B-55, thường được gọi là Trung-tâm Hành-quân Chiến-thuật (TOC), nhưng trên thực tế, cơquan này làm nhiệm vụ giảiđoán tin tình báo. Ðược huấn luyện, hướng dẫn bởi ban Cốvấn Kỹ-thuật Hỗn-hợp (JTAD) và phối hợp với ban Nghiên-cứu Hỗn-hợp (CDS). Sau khi sở Nghiên-cứu, Quansát (MACV-SOG) hoạt-động, B-55 làm nhiệm-vụ phối-hợp giữa hai tổ-chức LLÐB tại Việt-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Là cơ-quan liên-lạc tại Saigon, B-55 phải lo thủ-tục giấy tờ cho các quân nhân LLÐB/HK tại Việt-Nam. Tham-dự các buổi họp, thuyết trình giữa các bộ chỉ-huy, tuyển mộ Lính . Vào ngày 23 tháng năm 1968, B55 đảm nhận thêm nhiệm vụ chỉ huy Lực-lượng 5 Xung kích Lưu động (Mike Force). B-55 giữ trách nhiệm này cho đến ngày lên đường về Hoa-Kỳ vào năm 1970.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;B-56 HÀNH QUÂN SIGMA.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi mức-độ chiến trường leo thang, nhu cầu tình báo tác chiến đòi hỏi qúa nhiều, đặt nặng vấn đề cho chương trình Delta. Liên-đoàn 5 LLÐB/HK thành lập bộ chỉ huy B-56 vào tháng tám 1966 để phụ trách chương trình Hành-quân Sigma đặt căn-cứ trong trại Hồ-ngọc-Tảo. Hành quân Sigma được tổ chức tương tự như những chương trình thám sát khác, gồm có tám toán viễn-thám và ba đại-đội xung kích tiếp ứng. B-56 ít tuyển mộ người Thượng, dùng lính người Nùng hoặc Miên. Những toán 'Chạy đường mòn' của chương trình Sigma được chuyển qua bộ chỉ huy B-57 vào năm 1967. Sigma tham gia trong nhiều cuộc hành quân Blackjack trong vùng trách nhiệm hoạt động. Thường làm nhiệm vụ viễn thám cho các cuộc hành quân, đôi khi xử dụng lực lượng cơ-hữu của Sigma phối hợp với lực lượng tiếp-ứng Mike Force.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến tháng mười một 1967, vấn đề chỉ huy hành quân của B-56 được đặt dưới sự kiểm soát của MACV và thuộc quyền xử dụng của viên tư lệnh Quân-đoàn II. Trong năm 1969, B-56 dời đi Ban-mê-Thuột, cuối cùng trở lại Hoa-Kỳ vào tháng năm 1971.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;B-57 CHƯƠNG TRÌNH GAMMA.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ khi có nhiều đơn-vị trinh sát, viễn-thám hoạt động trên chiến trường Việt-Nam, nhu cầu giải đoán những nguồn tin tình báo thâu thập được và cung cấp tin tức, hướng dẫn về các mục tiêu trở nên hiển nhiên. Vào tháng sáu 1967, bộ chỉ huy B-57 chương trình Gamma được thành lập. Bộ chỉ huy đặt tại Saigon, B-57 có nhân-viên làm việc rải rác khắp các vùng chiến thuật II, III, và IV. B-57 đặc biệt tuyển mộ, điều hành những người lấy tin tức (điệp viên) hoạt động trong vùng địch. Ðể trợ giúp nhân viên tình báo của LLÐB, Lục quân Hoa-Kỳ biệt phái một số chuyên viên tình báo gọi là nhóm Cố-vấn Kỹ thuật Hỗn-hợp. Tổ chức này đã hoạt động hơn một năm và đã thiết-lập một hệ thống gián-điệp nằm-vùng, có sẵn những nguồn tin tình báo. B57 còn giữ sự liên-hệ mật thiết với các cơ-quan khác của chính quyền nhằm mục đích trao đổi, thẩm định tin tức và phối hợp các hoạt động tình báo. Chương trình Gamma chấm dứt vào tháng ba năm 1970 khi B-57 rời Việt-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TRƯỜNG VIỄN THÁM (RECONDO SCHOOL).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi chương trình Hành-quân Delta tăng thêm quân-số, nhu cầu huấn-luyện về kỹ thuật tuần-tiễu thám-sát được đặt ra. Vào tháng năm 1964, chương trình Delta bắt đầu huấn-luyện trong phạm-vi căn-cứ tại Nha-Trang. Một thời gian ngắn sau, các đơn-vị bắt đầu nghe đến khóa huấnluyện viễn-thám và được phép gửi quân nhân về học. Khi cơ-quan MACV được báo cáo kết qủa tốt đẹp của việc huấn luyện, ra chỉ thị cho liênđoàn 5 LLÐB đảm trách về khóa học. 15 tháng chín năm 1966 là ngày chính thức khai giảng trường huấn luyện Viễn-Thám MACV với ban huấn luyện thuộc bộ chỉ huy B-52. Khóa học dài ba tuần về kỹ thuật tác chiến, tuần-tiễu, trinh-sát. Khóa sinh phải đầy đủ sức khỏe, đã ở Việt-Nam tối thiểu một tháng và còn sáu thángphục vụ. Ưu tiên dành cho những quân nhân đến từ các toán A LLÐB, các đại-đội Biệt-động-quân, các toán viễn-thám và các đơn-vị trinh sát khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau này trường huấn luyện thêm khóa hướng dẫn về chiến-đấu cho các quân nhân LLÐB/HK mới đến Việt-Nam. Trường chính thức đóng cửa vào tháng mười một năm 1970.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;LỰC-LƯỢNG DU KÍCH LƯU ÐỘNG.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ý tưởng về Lực-lượng Du kích Lưu-động (MGF) dựa trên quan-niệm đặt những đơn-vị sâu trong vùng địch kiểm soát trong một khoảng thời gian, nhằm khuấy phá căn-cứ và các hoạt-động của địch. Bắt đầu từ năm 1966, đơn-vị Du-kích Lưu-động gồm có một toán A LLÐB và một đại-đội 150 người DSCÐ hoặc Mike Force, đã được huấn luyện về kỹ thuật tuần tiễu lâu dài và một trung đội trinh sát 34 người. Dưới danh-hiệu Blackjack, những đơn-vị này được đưa sâu vào vùng địch và nhận tiếp-tế bằng phương tiên thả dù. Hành quân Blackjack 21 xử dụng đơn-vị đặc nhiệm 777 gồm 15 quânnhân LLÐB/HK và 249 quân nhân Thượng. Blackjack 22 gồm có một đại đội xung-kích Mike Force và một đại đội Du-kích lưu-động. Blackjack 33 gồm đại đội 3 xung kích Mike Force và đại đội du-kích 957. Có nhiều cuộc hành quân Blackjack được tổ chức trong năm sau, cuối cùng các đạiđội Du-kích kết hợp với các đại đội xung-kích Mike Force thành đơn-vị cấp tiểu đoàn Xung-kích Lưu-động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;LỰC LƯỢNG XUNG KÍCH LƯU ÐỌÂNG (Mobile Strike Force).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc dầu các trại LLÐB đều có lực lượng xung-kích cơ hữu để trả đủa tức thời, tuy nhiên vẫn phải có thêm lực lượng tiếp-ứng khác đặt dưới quyềnđiều-động trực tiếp của LLÐB trong trường hợp khẩn cấp, giải vây trại LLÐB trước áplực nặng nề của địch. Một quyết định được tiến hành vào tháng sáu năm 1966, thành lập một đơn-vị trừ bị cho mỗi quân-khu và đặt trực thuộc bộchỉ huy LLÐB quân-khu (Bộ chỉ huy C). các tiểu đoàn tiếp ứng được huấn-luyện và bắt đầu hoạt động từ mùa thu 1966. Mới đầu gọi là Lựclượng Trừ bị Lưu-động, sau trở thành 'Mike Force' (Mobile Reaction Forces - MRF). Năm 1967, tên gọi chính thức cho các đơn-vị trên là Lực-lượng Xung-kích Lưu-động (Mobile Strike Force - MSF), mỗi quân khu đều có một đơn-vị riêng và đơn-vị thứ năm được thành lập xử-dụng cho bốn quân khu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc dầu dự định là một đơnvị trừ bị đa-dụng, đơn-vị xungkích trước tiên được xử dụng như lực lượng bảo vệ căn-cứ. Mỗi đại đội có 184 người, được tổ chức như đơn vị chínhquy trang bị súng cộng-đồng. Những đại-đội này được gom lại thành tiểu đoàn 552 người. Tiểu-đoàn xung-kích thường có thêm đại đội trinh-sát 135 người và bộ chỉ huy, đại-đội công-vụ 227 người. Nhiệm vụ chính là giải vây cho các trạiLLÐB, trong năm đầu, lực lượng xung-kích phối hợp với lực-lượng du-kích trong nhiều cuộc hành-quân. Về sau thường được xử-dụng tiếp-ứng cho toán Nghiên-cứu, Quansát (MACV - SOG) khi khẩn cấp. Ðến năm 1967, lực lượng du-kích sát-nhập vào lực lượng xung-kích và hoạt độngcho đến khi LLÐB/HK bàn giao cho QLVNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiến-đoàn 1 xung-kíchtrực thuộc B-16 LLÐB, thành lập vào tháng hai 1966 và đặt dưới quyền chỉ huy của bộ chỉ huy C1/LLÐB tai Ðà-Nẵng. Trong 5 năm hoạt-động trên chiến trường vùng I, chiến đoàn 1 xung-kích gồm có hai tiểu-đoàn, một đại-đội trinh sát, bộ chỉ huy và đại-đội công-vụ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiến-đoàn 2 xung-kích trựcthuộc B-20 LLÐB ở Plei-Ku, B-23 ở Ban-mê-Thuột và B24 trên Kontum. Tất cả đặt dưới quyền chỉ huy của bộ chỉ huy C2/LLÐB trách nhiệm trên lãnh thổ quân-khu II. Trong 5 năm hoạt-động, chiến-đoàn 2 xung-kích gồm có năm tiểu-đoàn, một đại đội trinh sát, bộ chỉ huy và đại đội công vụ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiến-đoàn 3 xung-kích thành lập vào tháng mười một năm 1967 và đặt dưới quyền điều động của bộ chỉ huyC3/LLÐB, chịu trách nhiệm trên lãnh thổ quân-khu III. Bộ chỉ huy B-36 LLÐB chỉ huy trực tiếp chiến-đoàn 3 xungkích gồm có ba tiểu-đoàn, đại-đội trinh-sát, bộ chỉ huy cùng đại đội công-vụ. Vào cuối năm 1970, chiến đoàn dược chuyển giao cho QLVNCH, B-36 trở về Hoa-Kỳ tháng hai năm 1971.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiến-đoàn 4 xung-kích trực thuộc B-40, bộ chỉ huyC4/LLÐB gồm có ba tiểuđoàn, đại-đội trinh-sát, đại đội xuồng bay (Air boat) 184 người, bộ chỉ huy cùng đại-đội công-vụ. Mới đầu chịu trách nhiệm trên quân-khu IV đến tháng tám năm 1969, đặt dưới quyền điều động của Biệt-khu 44. Bắt đầu từ tháng năm 1970, chiến đoàn được bàn giao cho QLVNCH, B40/LLÐB/HK về nước tháng&lt;br /&gt;mười hai năm 1970. &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; &lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;LIÊN ÐOÀN NGHIÊN CỨU, QUAN SÁT (MACV SOG).&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Liên-đoàn Nghiên-cứu, Quan-sát thuộc bộ chỉ huy Quân-Viện (MACV - SOG) là một đơn-vị tuyệt-đối cho các hành quân đặc biệt. Ngay từ lúc khởi đầu, danh hiệu Nghiên-cứu, Quan-sát (đôi khi gọi là Hành quân Ðặc biệt) được dùng làm tên che mắt (Code name - Danh hiệu) cho các cuộc hành quân tối mật về tình-báo.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Cơ-quan Trung-ương Tìnhbáo CIA đã từ lâu yểm trợ cho các dịch-vụ bí-mật của chính quyền VNCH cho đến năm 1963, lúc đó cơ-quan trở thành bộ chỉ huy Lực-lượngÐặc-biệt Việt-Nam và thực hiện những cuộc hành quân đặc biệt. Cường-độ chiến tranh gia tăng, nhu cầu cho các hoạt-động tăng lên. &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;LLÐB/VN phát triển trở thànhSở Khai-thác Ðặc-biệt. Vào ngày 16 tháng giêng năm 1964, bộ chỉ huy mới Liênđoàn Nghiên-cứu, Quan-sát được thành lập trong Chợ-Lớn cho các cuộc hành quân đặc biệt. Năm 1966, bộ chỉ huy MACV-SOG dời ra Saigon, bộ phận Bộ đóng trong phi trường Tân-sơn-Nhất, bộ phận Không yểm dời ra Nha Trang, và bộphận Hải yểm đóng ngoài Ðà-Nẵng.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Các sứ-mạng của MACVSOG nhắm trực tiếp vào những nơi địch kiểm-soát trong miền nam Việt-Nam, và vượt biên sang đất Lào, Campuchia, Bắc Việt và nam Trung-Hoa. Những nhiệm-vụ đặc biệt bao gồm việc thuthập tin-tức tình báo chiếnlược, phá-hoại đường giao liên, tiếp vận của địch, chiến tranh tâm-lý, cứu tù-binh và phát triển phong-trào kháng chiến chống lại chính-quyền, v.v... Những nhiệm-vụ thám sát của Liên-đoàn Nghiên cứu, Quan-sát (MACV-SOG) được chọn lựa kỹ càng và những bản báo-cáo sau chuyến xâm-nhập thường được gửi về Ngũ-giác đài để đánh gía và phân phối đi.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Năm 1967, MACV-SOG được tổ chức lại đơn-vị Bộ thành ba bộ chỉ huy: Bộ chỉ huy Bắc (CCN) ở Ðà-Nẵng, Trung (CCC) trên Kontum và Nam (CCS) ở Ban-mê-Thuột. Những bộ chỉ huy này được tổ chức bằng cách gom lại một số căn-cứ hành-quân tiền phương (FOB), mà trước đây được thiết lập để yểm trợ tiếp cận cho những cuộc hành quân xâm nhập. Các căn cứ này đóng ở Phú-Bài (Huế), Kontum, Khe-Sanh, Non-Nước, Ban-mê-Thuột và trại Hồ-ngọc-Tảo. Bộ phận (Sở) Bộ gồm hơn 1600 quânLLÐB/HK, chia ra hơn 70 toán thám-sát và 8000 quân LLÐB Việt-Nam.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Cách tổ chức cuả Liên-đoàn Nghiên-cứu, Quan-sát (MACV-SOG) cũng gần như song-song với tổ chức của Lực-lượng Ðặc-biệt với các toán xâm-nhập tương đương với các toán A LLÐB, căn-cứ hành-quân tiền-phương tương đương với bộ chỉ huy BLLÐB, các bộ chỉ huy Bắc, Trung, Nam tương đương với các bộ chỉ huy C LLÐB.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Bộ phận (Sở) Không yểm bao gồm Phi-đoàn 90 Hànhquân Ðặc-biệt (SOS) của Không-lực Hoa-Kỳ, đóng tại Nha Trang, cung cấp máy bay C-130. Phi đoàn 20 (SOS) có bộ chỉ huy ở vịnh Cam Ranh, các đơn-vị phụ thuộc đóng tạiBan-mê-Thuột, Ðức-Lập và Tiêu Atar cung cấp trực thăng yểm trợ. Ngoài ra MACVSOG còn có đơn-vị trực thuộc là Phi-đoàn Ðệ Nhất (First Flight) đóng rải rác khắp nơi&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;và Thái-Lan.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Bộ phận Hải yểm đóngngoài Ðà-Nẵng gồm có đơnvị Biệt-kích (SEALs) của Hải quân Hoa-Kỳ, các siêu tốc đỉnh và các toán Người Nhái, phá-hoại dưới nước thuộc Hải-quân Việt-Nam.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;MACV-SOG còn có một trung tâm huấn luyện và đơn vị xâm-nhập bằng dù ở LongThành. Ðơn-vị này gồm các quân-nhân Việt-Nam, được thả vào vùng địch bằng phương tiện nhẩy-dù.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Cơ-quan MACV-SOG ngưng hoạt động kể từ ngày 30 tháng tư 1971 và chương trình được giao cho toán Yểm trợ Nha Kỹ-Thuật 158 (STDAT). Một số quân Bộ đã chuyển qua nhóm Cố-vấn Hành-quânÐặc-biệt từ tháng ba năm 1971. Cuối cùng chấm dứt nhiệm-vụ vào ngày 12 tháng ba năm 1972. Kết thúc một trong những huyền thoại trong ngành Lực-lượng Ðặc-biệt.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;BỘ CHỈ HUY (CCN) SỞ BẮC.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Bộ chỉ huy Bắc được thành lập vào ngày 01 tháng mườimột năm 1967 tại Ðà-Nẵng với ba bộ chỉ huy tiền-phương 1 tại Phú-Bài, bộ chỉ huy tiềnphương 3 tại Khe-Sanh và bộ chỉ huy tiền-phương 4 tại Non- Nước. Quân nhân thuộc Liênđoàn 5 LLÐB/HK và ban cố vấn Hải-quân.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Các hành quân vượt biên do BCH Bắc tổ chức nhắm vào miền bắc Việt-Nam và Lào. Những cuộc hành quân trong vùng nam Lào dưới danh hiệu Shining Brass bắt đầu từ năm 1965 nhằm phá-hoại đường dây xâm nhập người và vật liệu. Sau đó đổi tên là Prairie Fire, khi chuyển qua Nha Kỹ- Thuật cuộc hành quân lấy tên là Phù-Dung.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Như tất cả các cuộc hành quân thám-sát, BCH Bắc cũng có đơn-vị tiếp ứng gọi là đơn-vị Cảm- Tử đặc biệt. Ngoài ra còn thiết lập những căn cứ hành quân bí mật bên Thái Lan. Tuy nhiên, nhiệmvụ chính vẫn là trinh-sát, thâu thập tin tức tình báo chiến lược.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;BỌÂ CHỈ HUY (CCC) SỞ TRUNG.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Bộ chỉ huy này đóng tại Kontum gồm quân của Liênđoàn 5 LLÐB/HK, có thời gian được xem như phần nớirộng hành quân của LÐ 5LLÐB. Khu vực trách nhiệm của bộ chỉ huy là tam giác Lào, Miên và Việt. Các cuộc hành quân lúc đầu lấy tên là Daniel Boone, sau đổi thành Salem House nhằm phá hoại căn cứ, kho tiếp-liệu che dấu của quân cộng-sản Bắc Việt, đặc biệt trong vùng đông-bắc Campuchia. Trong Bộ chỉ huy Trung có tất cả 30 toán thám-sát, mỗi toán gồm 3quân nhân LLÐB/HK và chín quân nhân Việt-Nam. Ngoài ra còn có bốn đại-đội khai thác, xử dụng tin tức do các toán thám-sát cung cấp trong các cuộc hành quân lùng và diệt.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;BỘ CHỈ HUY (CCS) SỞ NAM.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Bộ chỉ huy này được thành lập vào tháng mười một năm 1967 đồn trú tại Ban-mê-Thuột. Bộ chỉ huy này nhỏ nhất trong các bộ chỉ huy của liên-đoàn Nghiên-cứu, Quansát (MACV-SOG). Khu vực hoạt động chính nơi đồng bằng Cửu Long và Campuchia. Ðơn-vị gồm có một số toán thám-sát và bốn đại đội khai thác. Do địa thế dưới vùng đồng bằng, các đại-đội khai thác thường xử dụng xuồng bay trong các cuộc hành quân tiếp ứng. Sự tham chiến của các quân nhân Hoa-Kỳ trong đơn-vị này chấm dứt vào tháng giêng năm 1973, tất cả các đơn-vị Hoa-Kỳ trở về nước.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;IX. ÐOẠN KẾT.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Trong chiến tranh Việt-Nam, rất nhiều giai thoại nói về binh-chủng Lực-Lượng Ðặc-Biệt. Nhưng ít người hiểu biết tường tận, ngay cả đến những quân nhân phục vụ trong ngành LLÐB. Ðiều này không nên lấy làm lạ vì đó là đặc tính căn bản (Sống chết) của LLÐB... 'BÍ MẬT'. Nhiều đơn-vị có tên nghe rất lạ, Lôi-Hổ, Thám-sát, Sở Công-tác,liên-lạc, Biệt-kích v.v... Ðối với quân đội Hoa-Kỳ, các quân nhân LLÐB được coi như những chiến-sĩ can trường, được tuyển chọn và huấn luyện đầy đủ nhất. Trong QLVNCH, binh-chủng LLÐB Việt Nam gồm những chiến-sĩ can-đảm, gan-lì, đôi khi hơi bí-mật... Họ là những 'Bóng ma biên giới' đối với quân cộng sản. Binh chủng LLÐB đã đóng góp rất nhiều công lao, xương máu cho miền Nam tự do của chúng ta, mặc dầu những chiến công, sự chiến đấu của họ cũng thầm lặng... bí mật.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;-Harry Pugh, U.S. Special Forces, C&amp;amp;D Enterprises, Arlington, VA. 1993 -Francis J. Kelly, The Green&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Berets, Brassey Inc., New York, NY. 1991 -Special Forces and Missions, Time-Life books, Alexandria, VA.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;Dallas, Cọp Khánh-Hòa &lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color: #660000;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-663234868374338310?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/663234868374338310/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=663234868374338310' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/663234868374338310'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/663234868374338310'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/12/i.html' title=''/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sxizlf4a-OI/AAAAAAAAIqc/ackmaQ1YNtI/s72-c/vnchflyer.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-7616427770756287644</id><published>2009-12-01T10:17:00.000-08:00</published><updated>2009-12-01T14:21:24.691-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SxVeUMcc0hI/AAAAAAAAIo0/7kWG-qBW75s/s1600/guomthiengaiquocsize3.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5410334228386468370" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 216px; CURSOR: hand; HEIGHT: 216px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SxVeUMcc0hI/AAAAAAAAIo0/7kWG-qBW75s/s400/guomthiengaiquocsize3.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sko3_YZb44I/AAAAAAAAEgA/Im7-XgOxzC4/s1600-h/specialoperation200.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353152669103678338" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 164px; CURSOR: hand; HEIGHT: 240px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sko3_YZb44I/AAAAAAAAEgA/Im7-XgOxzC4/s400/specialoperation200.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM&lt;br /&gt;Trong chiến tranh Việt-Nam, một đơn-vị tối mật được ít người biết đến với danh hiệu Nha-Kỹ-Thuật thuộc bộ Tổng-Tham-Mưu, Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Những quân-nhân trong đơn-vị bí mật này thường được gọi là Lôi-Hổ hoặc xếp họ vào hàng lính Biệt-Kích thuộc binh-chủng Lực-Lượng Ðặc-Biệt. Người Hoa-Kỳ cho rằng Nha-Kỹ-Thuật là một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Ðông-Dương. Cả hai đơn-vị NKT và LLÐB đều được Hoa-Kỳ yểm trợ mạnh mẽ, NKT có tổ chức riêng biệt dựa theo cơ-cấu tổ chức của LLÐB. Các 'Sở' hoặc Bộ-Chỉ-Huy (CCN, CCC, CCS - Command &amp;amp; Control North, Central, South) tương đương với các Bộ-Chỉ-Huy 'C' (C1, C2, C3, C4) của LLÐB. Các 'Căn-cứ Hành-Quân Tiền-phương' (FOB – Forward Operation Base) tương-đương với các BCH 'B' (B50, B52, B57, v.v...). Các toán 'Lôi-Hổ' tương-đương với các toán 'A' biên-phòng. Bài viết này theo tài liệu trong cuốn 'SOG – The Secret Wars of America's Commandos in Vietnam', tác giả John L. Plaster. &lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt; &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;Tháng Hai 1961, môt chiếc thuyền đóng theo kiểu những thuyền đánh cá khác ở Bắc Việt-Nam trôi bềnh bồng ngoài khơi vịnh Bắc Việt, lặng lẽ hướng về Cẩm-Phả, một thành phố nhỏ ven biển. Hai đêm trước, họ đã lướt qua hải cảng Hải-Phòng một cách êm-thấm. Ðêm nay lúc hoàng hôn, họ có thể thấy mờ-mờ những rặng núi trong tỉnh Quảng-Ðông của Trung-Hoa vào khoảng 40 dặm về phiá bắc. Trường hợp không may xẩy ra, nếu họ bị bao vây, sẽ không có một chiếc tầu nào của phe ta đến tiếp cứu họ. Chiếc thuyền con không được đóng ở ngoài Bắc mà ở Vũng- Tàu cách xa 800 dặm, những người lái tầu đã được cơ-quan tình báo CIA Hoa-Kỳ bí-mật tuyển mộ và huấn luyện để đưa một người Việt-Nam tuổi khoảng trung tuần đem theo máy truyền tin xâm nhập vào miền Bắc. Ðiệp viên bí danh Ares đã đặt chân lên miền Bắc thành công mỹ-mãn. Dưới thời tổng-thống Kenedy, điều-khoản số 52 trong Hội Ðồng An-Ninh Quốc-Gia chấp thuận cho cơ-quan CIA xư ûdụng quân Biệt-Kích Mũ- Xanh (Special Forces) và đơnvị Người Nhái Hải Quân (Navy SEALs) để huấn-luyện, cố-vấn quân-nhân Việt-Nam&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM&lt;br /&gt;trong những nhiệm-vụ bí-mật do ông trùm Xịa CIA Colby tổ chức. Tại thành phố bờ biển Nha-Trang, Lực-Lượng Ðặc-Biệt Hoa-Kỳ huấn luyện cho Biệt- Kích quân Việt-Nam thuộc Liên-Ðoàn 1 Quan-Sát để dò thám đường mòn Hồ-Chí- Minh. Trong năm 1961-1962, Liên-Ðoàn 1 Quan-Sát tổ chức 41 cuộc hành-quân viễn thám, tìm kiếm dấu vết đường xâm-nhập cuả địch qua ngã Lào. Trong khi đó, ngoài Ðà- Nẵng, toán người-nhái Hoa- Kỳ huấn luyện thủy-thủ Việt- Nam, chuyên chở người xâm nhập miền Bắc bằng đường biển. Ngoài ra tổ chức thêm những toán Biệt-Hải với nhiệm-vụ mở những cuộc tấn công bất ngờ các mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc. Sau vài chuyến thành công, Hải- Quân Bắc Việt đã đề phòng, ngăn chận đánh chìm một số hải thuyền. Sau khi nhận định lại tình hình, cơ-quan CIA đổi hướng xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng-không qua sự tiếp tay của Không-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Các nhân-viên (Trong giai đoạn này họ là dân-sự) xắp xâm nhập miền Bắc được huấn luyện trong căn cứ ở Long-Thành, cách Saigon khoảng 20 dặm về hướng đông. Quân Mũ-Xanh và nhân viên CIA huấn luyện họ về ngành tình-báo, kỹ-thuật phá hoại, xử-dụng vũ-khí, nhẩy dù, đánh morse và mưu-sinh. Những khả năng để họ có thể hoạt động trong nhiều năm ngoài Bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến cuối muà Xuân 1961, điệp-viên Ares vẫn thường gửi những điện văn morse đến trung tâm truyền tin viễn thông của CIA ở Phi-Luật-Tân để báo cáo. Không như điệp viên Ares, ra đi đơn độc. Bây giờ đến giai đoạn thả những toán biệt kích xâm-nhập từ 3 đến 8 người. Họ không được may mắn như điệp-viên Ares.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyến đầu tiên thả toán Atlas, toán này không có cơ hội để gửi điện văn báo cáo là đã đến nơi, chiếc máy bay chở họ cũng biến mất luôn! Tướng Kỳ đích thân lái phi vụ thứ hai thả toán Castor sâu vào miền Bắc Việt-Nam. Ba tháng sau, Hà-Nội làm rùm beng vụ đem xét-xử ba người sống sót trong toán Atlas. Ít lâu sau toán Castor cũng mất liên-lạc, rồi đến hai toán Dido và Echo cũng nằm trong tay địch quân. Toán cuối cùng thả xuống miền Bắc trong năm 1961 là toán biệt kích Tarzan cũng mất tích. Trong mùa hè 1962, cơ-quan CIA đồng-ý bàn giao các hoạt động trong vùng Ðông-Nam- Á cho quân-đội trong vòng 18 tháng. Chương trình bàn giao có tên là Kế-Hoạch Trở-Lại (Operation Switchback). Rồi thì chính-biến 1-11-1963 xẩy ra và nhiều biến đổi trong miền Nam Việt-Nam làm cho kế-hoạch chậm trễ. Quân-đội Hoa-Kỳ vẫn chưa có một đơn vị đặc biệt nào để đảm nhận chương trình của CIA bàn giao. &lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;strong&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Hà-Nội gia tăng mức độ xâm nhập vào miền Nam làm cho bộ-trưởng Quốc-Phòng Mc Namara ra lệnh thả nhiều toán 'Biệt-Kích' ra ngoài Bắc phá hoại 'Giới lãnh-đạo miền Bắc nên biết rằng họ sẽ phải trả giá nếu còn tiếp tục nuôi dưỡng, cho quân xâm nhập vào miền Nam'. Kế-hoạch 34A (OPLAN-34A) ban-hành ngàỵ 15 tháng 12 năm 1963 giới hạn cho một số mục tiêu. Mặc dầu Mc Namara thúc đẩy, kế-hoạch 34A bắt đầu từ ngày 1 tháng Hai 1964, Bộ- Chỉ-Huy Quân-Viện (MACV) mới lập xong một đơn vị cho các hoạt động bí mật của CIA.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðơn vị này do một đại-tá chỉ huy và bao gồm nhiều đơn vị, từ LLÐB, Người Nhái, Không-Ðoàn Cảm-Tử (Air Commando). Ðơn vị mới này lấy tên là SOG (Special Operation Group) Liên-Ðoàn Hành-Quân Ðặc-Biệt. Sau đó đổi tên để bảo mật mặc dầu vẫn viết tắt là SOG (Study and Observation Group) Ðoàn Nghiên-Cứu, Quan-Sát, tên mới nghe có vẻ chỉ gồm những chuyên-gia hoặc những nhà giáo.&lt;br /&gt;Ðơn-vị mới SOG không trực thuộc cơ-quan MACV hoặc cấp chỉ huy của MACV là tướng William Westmoreland, mà nhận lệnh thẳng từ bộ TTM/QLHK (JCS) trong Ngũ- Giác-Ðài và thường nhận lệnh từ tòa Bạch Ốc. Chỉ có 5 sĩ quan cao cấp Hoa-Kỳ ở Saigon được báo cáo về những hoạt động bí-mật của SOG: Tướng Westmoreland, tham-mưu-trưởng của ông ta, trưởng phòng Nhì, tư-lệnh Ðệ- Thất Không-Lực, và viên tưlệnh lực-lượng Hải-Quân HK tại Việt-Nam. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;SOG được chấp thuận mở những cuộc hành quân phát xuất từ miền Nam Việt-Nam, và Thái-Lan vào đất Ai-Lao, Miên, Bắc Việt và có thể ở phiá bắc Miến-Ðiện, Quảng Ðông, Quảng Tây, Hồ-Nam và đảo Hải-Nam bên Tầu. Ngân khoản dành cho SOG sẽ dấu trong ngân khoản dành cho Hải-Quân Hoa-Kỳ. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;Trùm SOG là một sĩ-quan thuộc binh-chủng Nhẩy-Dù trong trận Thế-Chiến thứ Hai, sau đó chuyển qua Lực-Lượng Ðặc-Biệt trong thập niên 50. Ðại-Tá Clyde Russell đã từng theo sư-đoàn 82 Dù nhẩy xuống Pháp, Hòa-Lan, sau đó chỉ-huy Liên-Ðoàn 10 LLÐB bên Âu-châu, sau đó là LiênÐoàn 7 LLÐB trong căn-cứ Fort Bragg, North Carolina. Trong kế-hoạch 34A, đại-tá Russell và ban tham-mưu thay đổi cơ-cấu tổ chức của Liên Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát dựa theo tổ chức OSS xâm nhập với sở Không yểm, Hải yểm và một đơn-vị Tâm-lý chiến. Cơ-quan CIA cho SOG xử-dụng hệ-thống tiếp-liệu đặc biệt với những đồ chơi 'Xa-xỉ phẩm' như vũ-khí tối tân, dụng cụ câu dây điện thoại để nghe lén. Ðồ tiếp liệu bí mật này có trong căn cứ Chinen ở Okinawa. Ngoài ra còn có thêm văn phòng chuyên lo việc tiếp liệu cho đơn vị SOG và LLÐB. &lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;CIA bàn giao thêm cho SOG một phi đội C-123 từ Ðài- Loan do các phi-công Ðài- Loan lái để thay thế các máy bay C-47 của Không-Lực VNCH. Phi-đội này có tên là Ðệ Nhất gồm bốn chiếc C- 123. Mỗi chiếc có một phi hành đoàn phụ Hoa-Kỳ để bay những phi vụ trong miền Nam, các phi-công Ðài-Loan bay những phi vụ ra Bắc hoặc qua đất Miên. Những phi công Ðài-Loan này không biết tiếng Việt, có thẻ căn-cước Việt-Nam nhưng chỉ một số rất ít viên chức Việt-Nam mới biết họ là ai. CIA cũng bàn giao thành quả 3 năm hoạt-động của họ cho tới năm 1964. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;Tất cả 22 toán thả ra ngoài Bắc, chỉ còn liên-lạc được 4 toán Bell, Remus, Easy, Tourbillon và Ares. Trong căn-cứ Long- Thành gần Saigon, SOG nhận được khoàng hơn 20 nhân viên đang thụ-huấn. Các sĩ quan SOG không tin tuởng nơi họ và phải loại trừ những quân nhân đó. SOG cũng không thể trả họ về cho QL/VNCH vì họ đã biết những nhiệm-vụ, hoạt động bí mật của cơ-quan ở ngoài Bắc. Cách giải quyết dễ dàng nhất là... cứ thả họ ra ngoài Bắc (Bỏ rơi cho địch quân). Trong tháng Năm, Sáu, Bảy 1964, các toán Boone, Buffalo, Lotus và Scorpion nhẩy dù xuống miền Bắc và đều bị bắt hết. Ngoài ra một số nhân viên khác cũng được gửi ra ngoài Bắc để tăng cường cho hai toán Remus và Tourbillon. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Sau khi thanh toán xong các toán do CIA để lại, SOG bắt đầu tuyển mộ nhân viên mới cho một chương trình huấn luyện dài 21 tuần lễ. Danh từ 'LÔI-HỔ' có từ đây. Ðể yểm trợ cho kế-hoạch 34A tấn công bất ngờ bờ biển Bắc Việt, trong đêm 16 tháng 2 năm 1964, ba thủy thủ người Na-Uy lái chiếc tầu Nasty (chạy rất nhanh, hỏa lực mạnh do Na-Uy chế tạo) chở theo người nhái Việt-Nam dự tính phá hủy một chiếc cầu, bị địch phát giác phải quay trở lại. Mấy đêm sau, một toán phá hoại người nhái khác xâm nhập miền Bắc bị thất bại, mất đi 8 quân nhân thuộc Lực- Lượng Người Nhái HQVN. Qua tháng 7, các tốc đỉnh Nasty và Biệt-Hải dùng chiến thật tấn công bất ngờ rồi chạy, phá hủy được năm mục tiêu ngoài Bắc trong hai ngày 9 và 25 tháng Bảy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 30 tháng 7, SOG xử dụng 5 chiếc tốc đỉnh Nasty tấn công những dàn ra-đa gần Hải-Phòng gây nhiều tiếng nổ phụ. Trong tháng Tư 1964, bộ trưởng quốc-phòng Mc. Namara ra lệnh thám-thính phần đất bên Ai-Lao. Chương trình 'Leaping Lena' bắt đầu thả toán đầu tiên qua Lào ngày 24 tháng Sáu, đến 1 tháng Bảy, năm toán Biệt- Kích Việt-Nam nhẩy dù qua biên giới Lào để dò-thám các hoạt động của quân-đội Bắc Việt Chương trình 'Leaping Lena' tới tai cố-vấn của tổngthống Hoa-Kỳ, ông William Bundy qua bản báo cáo 'Tất cả các toán đều bị địch tìm ra vị-trí, chỉ còn bốn người sống sót chạy thoát trở về'. Ðầu năm 1965, phi công Jim Ryan của Air America (CIA), chụp được một số hình ảnh, những con đường mới làm từ đèo Mụ-Già qua phần đất Ai- Lao, hệ thống đường mòn Hồ- Chí-Minh gia tăng. Ngày 8 tháng Ba năm 1965, SOG có một cấp chỉ huy mới là Ðại-Tá Donald Blakburn, một huyền thoại trong ngành Lực-Lượng Ðặc-Biệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;SOG The Secret Wars Of America's Commandos in Vietnam, John L. Plaster.&lt;br /&gt;VÐH&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-7616427770756287644?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/7616427770756287644/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=7616427770756287644' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/7616427770756287644'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/7616427770756287644'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/12/tran-chien-bi-mat-nktttm-trong-chien.html' title=''/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SxVeUMcc0hI/AAAAAAAAIo0/7kWG-qBW75s/s72-c/guomthiengaiquocsize3.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-6272808492403148680</id><published>2009-12-01T10:16:00.001-08:00</published><updated>2009-12-03T17:55:17.729-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SxVdH5inj6I/AAAAAAAAIos/hgkXavrJ7gA/s1600/LOGO_SAMPLE.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5410332917642006434" style="margin: 0px auto 10px; display: block; width: 309px; height: 400px; text-align: center;" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SxVdH5inj6I/AAAAAAAAIos/hgkXavrJ7gA/s400/LOGO_SAMPLE.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Trong chiến tranh Việt-Nam, một đơn-vị tối mật được ít người biết đến với danh hiệu Nha-Kỹ-Thuật thuộc bộ Tổng-Tham-Mưu, Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Những quân-nhân trong đơn-vị bí mật này thường được gọi là Lôi-Hổ hoặc xếp họ vào hàng lính Biệt-Kích thuộcbinh-chủng Lực-Lượng Ðặc-Biệt. Người Hoa-Kỳ cho rằng Nha-Kỹ-Thuật là một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Ðông-Dương.Cả hai đơn-vị NKT và LLÐB đều được Hoa-Kỳ yểm trợ mạnh mẽ, NKT có tổ chức riêng biệt dựa theo cơ-cấu tổ chức của LLÐB. Các 'Sở' hoặc Bộ-Chỉ-Huy (CCN, CCC, CCS - Command &amp;amp; ControlNorth, Central, South) tươngđương với các Bộ-Chỉ-Huy 'C' (C1, C2, C3, C4) của LLÐB. Các 'Căn-cứ Hành-Quân Tiền-phương' (FOB - Forward Operation Base) tương-đương với các BCH 'B' (B50, B52, B57, v.v...). Các toán 'Lôi-Hổ' tương-đương với các toán 'A' biên-phòng. Bài viết này theo tài liệu trong cuốn 'SOG - The Secret Wars of America's Commandos in Vietnam', tác giả John L. Plaster.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Hai 1961, môt chiếc thuyền đóng theo kiểu những thuyền đánh cá khác ở Bắc Việt-Nam trôi bềnh bồng ngoài khơi vịnh Bắc Việt, lặng lẽ hướng về Cẩm-Phả, một thành phố nhỏ ven biển. Hai đêm trước, họ đã lướt qua hảicảng Hải-Phòng một cáchêm-thấm. Ðêm nay lúc hoàng hôn, họ có thể thấy mờ-mờ những rặng núi trong tỉnhQuảng-Ðông của Trung-Hoa vào khoảng 40 dặm về phiá bắc. Trường hợp không may xẩy ra, nếu họ bị bao vây, sẽ không có một chiếc tầu nào của phe ta đến tiếp cứu họ. Chiếc thuyền con không được đóng ở ngoài Bắc mà ở Vũng-Tàu cách xa 800 dặm, những người lái tầu đã được cơ-quan tình báo CIA Hoa-Kỳ bí-mật tuyển mộ và huấn luyện để đưa một người Việt-Nam tuổi khoảng trung tuần đem theo máy truyền tin xâm nhập vàomiền Bắc. Ðiệp viên bí danh Ares đã đặt chân lên miền Bắc thành công mỹ-mãn. Dưới thời tổng-thống Kenedy, điều-khoản số 52 trong Hội-Ðồng An-Ninh Quốc-Gia chấp thuận cho cơ-quan CIA xửdụng quân Biệt-Kích Mũ-Xanh (Special Forces) và đơnvị Người Nhái Hải Quân (Navy SEALs) để huấn-luyện, cố-vấn quân-nhân Việt-Nam trong những nhiệm-vụ bí-mật do ông trùm Xịa CIA Colby tổ chức.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại thành phố bờ biển Nha-Trang, Lực-Lượng Ðặc-Biệt Hoa-Kỳ huấn luyện cho Biệt-Kích quân Việt-Nam thuộcLiên-Ðoàn 1 Quan-Sát để dòthám đường mòn Hồ-Chí-Minh. Trong năm 1961-1962,Liên-Ðoàn 1 Quan-Sát tổ chức 41 cuộc hành-quân viễn thám, tìm kiếm dấu vết đường xâm-nhập cuả địch qua ngã Lào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi đó, ngoài Ðà-Nẵng, toán người-nhái Hoa-Kỳ huấn luyện thủy-thủ Việt-Nam, chuyên chở người xâm nhập miền Bắc bằng đường biển. Ngoài ra tổ chức thêm những toán Biệt-Hải với nhiệm-vụ mở những cuộc tấn công bất ngờ các mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc. &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Sau vài chuyến thành công, Hải-Quân Bắc Việt đã đề phòng, ngăn chận đánh chìm một số hải thuyền. Sau khi nhận định lại tình hình, cơ-quan CIA đổi hướng xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng-không qua sự tiếp tay của Không-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Các nhân-viên (Trong giai đoạn này họ là dân-sự) xắp xâm nhập miền Bắc được huấn luyện trong căn cứ ở Long-Thành, cách Saigon khoảng 20 dặm về hướng đông. Quân Mũ-Xanh và nhân viên CIA huấn luyện họ về ngành tình-báo, kỹ-thuật pháhoại, xử-dụng vũ-khí, nhẩydù, đánh morse và mưu-sinh. Những khả năng để họ có thể hoạt động trong nhiều năm ngoài Bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến cuối muà Xuân 1961, điệp-viên Ares vẫn thường gửi những điện văn morse đến trung tâm truyền tin viễn thông của CIA ở Phi-Luật-Tân để báo cáo. Không như điệp viên Ares, ra đi đơn độc. &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Bây giờ đến giai đoạn thả những toán biệt kích xâm-nhập từ 3 đến 8 người. Họ không được may mắn như điệp-viên Ares. Chuyến đầu tiên thả toán Atlas, toán này không có cơ hội để gửi điện văn báo cáo là đã đến nơi, chiếc máy bay chở họ cũng biến mất luôn! Tướng Kỳ đích thân lái phi vụ thứ hai thả toán Castor sâu vào miền Bắc Việt-Nam. Ba tháng sau, Hà-Nội làm rùm beng vụ đem xét-xử ba người sống sót trong toán Atlas. Ít lâu sau toán Castor cũng mất liên-lạc, rồi đến hai toán Dido và Echo cũng nằm trong tay địch quân. Toán cuối cùng thả xuống miền Bắc trong năm 1961 là toán biệt kích Tarzan cũng mất tích. Trong mùa hè 1962, cơ-quan CIA đồng-ý bàn giao các hoạtđộng trong vùng Ðông-Nam- Á cho quân-đội trong vòng 18 tháng. &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Chương trình bàn giao có tên là Kế-Hoạch Trở-Lại (Operation Switchback). Rồi thì chính-biến 1-11-1963 xẩy ra và nhiều biến đổi trong miền Nam Việt-Nam làm cho kế-hoạch chậm trễ. Quân-đội Hoa-Kỳ vẫn chưa có một đơn vị đặc biệt nào để đảm nhận chương trình của CIA bàn giao. Hà-Nội gia tăng mức độ xâm nhập vào miền Nam làm cho bộ-trưởng Quốc-Phòng Mc Namara ra lệnh thả nhiều toán 'Biệt-Kích' ra ngoài Bắc phá hoại 'Giới lãnh-đạo miền Bắc nên biết rằng họ sẽ phải trả giá nếu còn iếp tục nuôi dưỡng, cho quân xâm nhập vào miền Nam'. Kế-hoạch 34A (OPLAN-34A) ban-hành ngàỵ 15 tháng 12 năm 1963 giới hạn cho một số mục tiêu. &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;Mặc dầu Mc Namara thúc đẩy, kế-hoạch 34A bắt đầu từ ngày 1 tháng Hai 1964, Bộ-Chỉ-Huy Quân-Viện (MACV) mới lập xong một đơn vị cho các hoạt động bí mật của CIA.Ðơn vị này do một đại-tá chỉ huy và bao gồm nhiều đơn vị, từ LLÐB, Người Nhái, Không-Ðoàn Cảm-Tử (AirCommando). Ðơn vị mới này lấy tên là SOG (SpecialOperation Group) Liên-ÐoànHành-Quân Ðặc-Biệt. Sau đó đổi tên để bảo mật mặc dầu vẫn viết tắt là SOG (Study and Observation Group) Ðoàn Nghiên-Cứu, Quan-Sát, tên mới nghe có vẻ chỉ gồm những chuyên-gia hoặc những nhà giáo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðơn-vị mới SOG không trực thuộc cơ-quan MACV hoặc cấp chỉ huy của MACV là tướng William Westmoreland, mà nhận lệnh thẳng từ bộ TTM/QLHK (JCS) trong NgũGiác-Ðài và thường nhận lệnhtừ tòa Bạch Ốc. Chỉ có 5 sĩ quan cao cấp Hoa-Kỳ ở Saigon được báo cáo về những hoạt động bí-mật của SOG: Tướng Westmoreland, tham-mưu-trưởng của ông ta,trưởng phòng Nhì, tư-lệnh Ðệ- Thất Không-Lực, và viên tư lệnh lực-lượng Hải-Quân HK tại Việt-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;SOG được chấp thuận mở những cuộc hành quân phát xuất từ miền Nam Việt-Nam, và Thái-Lan vào đất Ai-Lao, Miên, Bắc Việt và có thể ở phiá bắc Miến-Ðiện, Quảng-Ðông, Quảng Tây, Hồ-Nam và đảo Hải-Nam bên Tầu. Ngân khoản dành cho SOG sẽ dấu trong ngân khoản dành cho Hải-Quân Hoa-Kỳ. Trùm SOG là một sĩ-quan thuộc binh-chủng Nhẩy-Dù trong trận Thế-Chiến thứ Hai, sau đó chuyển qua Lực-LượngÐặc-Biệt trong thập niên 50. Ðại-Tá Clyde Russell đã từng theo sư-đoàn 82 Dù nhẩy xuống Pháp, Hòa-Lan, sau đóchỉ-huy Liên-Ðoàn 10 LLÐBbên Âu-châu, sau đó là Liên-Ðoàn 7 LLÐB trong căn-cứ Fort Bragg, North Carolina.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong kế-hoạch 34A, đại-tá Russell và ban tham-mưu thay đổi cơ-cấu tổ chức của Liên-Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát dựa theo tổ chức OSS xâmnhập với sở Không yểm, Hải yểm và một đơn-vị Tâm-lý chiến. Cơ-quan CIA cho SOG xử-dụng hệ-thống tiếp-liệu đặc biệt với những đồ chơi 'Xa-xỉ phẩm' như vũ-khí tối tân, dụng cụ câu dây điệnthoại để nghe lén. Ðồ tiếp liệu bí mật này có trong căn cứ Chinen ở Okinawa. &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Ngoài ra còn có thêm văn phòng chuyên lo việc tiếp liệu cho đơn vị SOG và LLÐB.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;CIA bàn giao thêm cho SOGmột phi đội C-123 từ Ðài-Loan do các phi-công Ðài-Loan lái để thay thế các máy bay C-47 của Không-Lực VNCH. Phi-đội này có tên là Ðệ Nhất gồm bốn chiếc C123. Mỗi chiếc có một phi hành đoàn phụ Hoa-Kỳ để bay những phi vụ trong miềnNam, các phi-công Ðài-Loan bay những phi vụ ra Bắc hoặc qua đất Miên. Những phi côngÐài-Loan này không biết tiếng Việt, có thẻ căn-cước Việt-Nam nhưng chỉ một số rất ít viên chức Việt-Nam mới biết họ là ai. CIA cũng bàn giao thành quả 3 năm hoạt-động của họ cho tới năm 1964. Tất cả 22 toán thả ra ngoài Bắc, chỉ còn liên-lạc được 4 toán Bell, Remus, Easy, Tourbillon và Ares.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong căn-cứ Long-Thành gần Saigon, SOG nhận được khoàng hơn 20 nhânviên đang thụ-huấn. Các sĩ quan SOG không tin tuởng nơi họ và phải loại trừ những quân nhân đó. SOG cũng không thể trả họ về cho QL/VNCH vì họ đã biết những nhiệm-vụ, hoạt động bí mật của cơ-quan ở ngoài Bắc. Cách giải quyết dễ dàng nhất là... cứ thả họ ra ngoài Bắc (Bỏ rơi cho địch quân). Trong tháng Năm, Sáu, Bảy 1964, các toán Boone, Buffalo, Lotus và Scorpion nhẩy dù xuống miền Bắc và đều bị bắt hết. &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Ngoài ra một số nhân viên khác cũng được gửi ra ngoài Bắc để tăng cường cho hai toán Remus và Tourbillon. Sau khi thanh toán xong các toán do CIA để lại, SOG bắt đầu tuyển mộ nhân viên mới cho một chương trình huấn luyện dài 21 tuần lễ. Danh từ 'LÔI-HỔ' có từ đây. Ðể yểm trợ cho kế-hoạch 34A tấn công bất ngờ bờ biển Bắc Việt, trong đêm 16 tháng 2 năm 1964, ba thủy thủ người Na-Uy lái chiếc tầu Nasty (chạy rất nhanh, hỏa lực mạnh do Na-Uy chế tạo) chở theo người nhái Việt-Nam dự tính phá hủy một chiếc cầu, bị địch phát giác phải quay trở lại. Mấy đêm sau, một toán phá hoại người nhái khác xâm nhập miền Bắc bị thất bại, mất đi 8 quân nhân thuộc Lực-Lượng Người Nhái HQVN.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qua tháng 7, các tốc đỉnh Nasty và Biệt-Hải dùng chiến thật tấn công bất ngờ rồi chạy, phá hủy được năm mục tiêu ngoài Bắc trong hai ngày 9 và 25 tháng Bảy. Ngày 30 tháng 7, SOG xử dụng 5 chiếc tốc đỉnh Nasty tấn công những dàn ra-đa gần Hải-Phòng gây nhiều tiếng nổ phụ. Trong tháng Tư 1964, bo ätrưởng quốc-phòng Mc. Namara ra lệnh thám-thính phần đất bên Ai-Lao. &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Chươngtrình 'Leaping Lena' bắt đầu thả toán đầu tiên qua Lào ngày 24 tháng Sáu, đến 1 tháng Bảy, năm toán Biệt-Kích Việt-Nam nhẩy dù qua biên giới Lào để dò-thám các hoạt động của quân-đội Bắc Việt Chương trình 'Leaping Lena' tới tai cố-vấn của tổngthống Hoa-Kỳ, ông William Bundy qua bản báo cáo 'Tất cả các toán đều bị địch tìm ra vị-trí, chỉ còn bốn người sống sót chạy thoát trở về'.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðầu năm 1965, phi công Jim Ryan của Air America (CIA), chụp được một số hình ảnh, những con đường mới làm từ đèo Mụ-Già qua phần đất Ai-Lao, hệ thống đường mòn HồChí-Minh gia tăng. Ngày 8 tháng Ba năm 1965, SOG cómột cấp chỉ huy mới là Ðại-Tá Donald Blakburn, một huyền thoại trong ngành Lực-LượngÐặc-Biệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;SOG The Secret Wars Of America's Commandos in Vietnam, John L. Plaster.&lt;br /&gt;VÐH&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1957, chính quyền Eisenhower tài trợ cho một chương trình bí-mật. Phốihợp giữa cơ quan Trung-Ương Tình-báo CIA và bộ Quốc-Phòng Hoa-Kỳ giúp đỡ việc thành-lập một đơn-vị Lực-Lượng Ðặc-Biệt cho Nam Việt-Nam. Ðơn-vị này tên là Liên-Ðoàn Quan-Sát số 1, âm-thầm xâm-nhập vào hàng ngũ quân du-kích cộng-sản.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðể bảo mật, Liên-Ðoàn Quan-Sát số 1 do một ban tình báo trong bộ quốc phòng, ban Nghiên-Cứu điều hành. Ban này có hai thay đổi, thứ nhất đổi tên là Phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống, dưới sự theo dõi trực tiếp của tổng-thống Diệm. Thứ hai, trung-tá Lê-Quang-Tung được chỉ định làm trưởng phòng Liên-Lạc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1958, cơ-quan CIA tại Saigon, thành lập ban ngoại-vụ để làm việc với phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống. Trưởng ban là Russell Miller dưới danh hiệu ngoại giao, ông ta để ý trung-tá Lê Quang Tung chọn mười hai nhân viên cho đơn vị mới. Mười một sĩ quan trẻ thiếu-úy hoặc trung-úy, dưới quyền đại-úy Ngô-Thế-Linh, người đã làm việc 5 năm ngoài Ðà-Nẵng. Trong tháng Mười Một, mười hai người được đưa qua Saipan. Họ được cơ-quan CIA huấn Luyện hai tháng về nhiều môn, tình-báo tác-chiến, phương-thức phá-hoại và điều-khiển đường giây tình-báo. Trở về Saigon vào cuối năm, Đại-úy Ngô Thế Linh được chính thức bổ nhiệm làm trưởng&lt;br /&gt;phòng Bắc Việt (bí-danh phòng 45) trong phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ có hơn chục người, trong những tháng kế tiếp, phòng 45 lo việc huấn luyện thêm nhânviên. Ðến giữa năm 1959 một nhóm năm sĩ-quan khác được đưa qua Saipan thụ huấn khóa huấn luyện ngắn sáu tuần lễ. Sau đó ít lâu, cơ-quan CIA cử nhân viên qua Saigon huấn luyện hai lần, mỗi lần khoá huấn luyện kéo dài mười hai tuần lễ. Lần này chương trình huấn luyện nhằm vào những sĩ quan trẻ sinh quán nơi miền Bắc và gốc người thiểu-số.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi việc huấn luyện kéo dài đến cuối năm 1959. Phòng 45 phác-họa kế hoạch đầu tiên, họ tìm cách xâm nhập vào một hậu phương mà địch kiểm soát rất chặt chẽ gần năm năm. Cơ quan CIA biết rõ trở ngại của phòng 45. Trước đó năm 1951-1953, họ cho xâm nhập 212 điệp viên Tầu vào Hoa-Lục, một nửa bị giết, nửa khác bị bắt. Trên đất Đại Hàn , kết quả cũng tương tự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phòng Liên-Lạc phủ Tổng Thống trao trách nhiệm cho trung-úy Ðỗ-Văn-Tiên bí danh Francois gửi một điệp-viên đơn độc (singleton) ra ngoài Bắc. Francois tìm được một người có khả năng là Phạm-Chuyên, đã từng là đảng viên trong tỉnh Quảng-Ninh bị vợ bỏ, ông ta di cư vào miền nam. Mới đầu Phạm-Chuyên từ chối làm việc, mặc dầu trung-tá Lê-Quang-Tung đã cho đàn em theo dõi, dụ dỗ sáu tháng. Trung-úy Tiên (Francois) cộng tác với một nhân viên CIA là Edward Reagan tìm cách thuyết phục Chuyên, sau hơn sáu tháng Phạm Chuyên nhận lời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người điệp viên mới được đưa ra Nha-Trang để qua kỳ trắc nghiệm tâm-lý. Chuyên đạt được điểm xuất sắc, sau đó qua hai kỳ khảo nghiệm (test) nữa, một ở Saigon và ở Nha-Trang. Tiếp theo là phần huấn luyện cho Chuyên sáu tháng về ngành truyền-tin. Trong khi Chuyên được huấn luyện, trung-úy Tiên và Reagan bận rộn phác-hoạ kế hoạch gửi người điệp viên trở ra ngoài bắc. Chuyên sẽ nằm vùng dài hạn trong tỉnh Quảng-Ninh, một tỉnh ngay bờ biển, nơi Chuyên rất rành-rẽ, cho Chuyên xâm nhập bằng đường biển là điều hợp lý. Hai chuyên viêntình báo bay ra Ðà-Nẵng tìm địa điểm phát xuất, họ thuê một biệt thự có tường cao bao quanh làm căn cứ. Tất cả những hoạt động của họ từ đó trở về sau có mật hiệu là Pacific (Thái-Bình-Dương).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi Chuyên được gửi đi, Phòng 45 quyết định kế hoạch ngắn hạn, thả điệp viên qua vùng phi quân-sự, dọc theo vĩ tuyến 17. Người được tuyển chọn cho kế hoạch này là một người theo đạo công giáo, quê ở Hà-Tĩnh tên là Vũ-Công-Hồng. Hồng được huấn luyện nhanh chóng và đưa ra Huế sống trong một căn nhà an-toàn. Trong nhà có thêm hai sĩ-quan trẻ thuộc phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống là Phạm-Văn-Minh và Trần-Bá-Tuấn, cả hai đều đã được huấn luyện ở Saipan. Hai người có bí danh là Michael và Brad. Họ làm việc với nhân viên CIA David Zogbaum. Cũng như Francois (tr/u Tiên), Reagantrong Ðà-Nẵng, các hoạt động phát xuất từ Huế có mật hiệu làAtlantic (Ðại-Tây-Dương).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vũ-Công-Hồng mang bí danh là Hirondelle đã sẵn sàng ra đi. Thiếu-tá Trần-Khắc-Kính nhân vật thứ hai trong phòng Liên-Lạc PTT, có mặt trong lúc thả điệp viên Hirondelle qua sông Bến-Hải. Qua sông, Hirondelle biến mất vào màn đêm và trở lại miền nam vài tuần sau. Mặc dầu chỉ cho biết tin tức về đường đi nước bước, hệ thống an-ninh nơi miền Bắc, người điệp viên làm cho phòng 45 phấn khởi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai tháng sau chuyến đi của Hirondelle, Chuyên đã sẵn-sàng sau một năm huấn luyện. Sứ mạng của Chuyên khác với Hirondelle. Chuyên sẽ thu-thập tin tức tình báo, tuyển mộ thêm điệp viên và sẽ nằm vùng trong nhiều năm. Theo kế-hoạch (vỏ bọc / ngụy trang) Chuyên sẽ trở nên một người đánh cá ở Cẩm-Phả, một làng nhỏ gần vịnh Hạ-Long. Ðó cũng là quê của Chuyên trước năm 1958, sự trở về của Chuyên có thể bị lộ, tuy nhiên ông ta còn có gia đình, anh em, vẫn hy vọng được che chở.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phạm-Chuyên đã sẵng sàng rađi với bí danh Ares. Ðầu tháng Tư năm 1961, Ares lên tầu Nautilus I rời Ðà-Nẵng theo chuyến hải hành hai ngày về phiá bắc. Gặp thời tiết xấu, chiếc Nautilus I phải quay trở về bến. Vài hôm sau, thời tiết trở nên tốt, điệp viên Ares lại lên đường. Cả hai Francois và Reagan ra bến tầu tiễn Ares, Francois nhớ lại 'Tôi chúc anh ta đi may mắn'. Ðiệp viên Ares không nói một lời nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bầu trời xanh, biển lặng, chiếc Nautilus I lặng lẽ xâm nhập vào vùng biển Quảng Ninh, sau đó Ares chèo xuồng nhỏ đổ bộ lênbờ. Ðịa điểm đổ bộ gần Cẩm-Phả, Ares đem đồ tiếp vận lên bờ rồi dấu hai máy truyền tin. Nhiệm vụ đầu tiên, anh ta phải tuyển mộ thêm một người để giúp đỡ trong việc xử dụng máy truyền tin. Phòng 45 đã rõ điều này nên sẽ chờ tín hiệu của Ares trong vòng nhiều tuần hoặc nếu không vài tháng. Không bị phát giác, có người trông thấy, người điệp viên lẻn về làng cũ, và vào thẳng căn nhà xưa của mình. Xum họp với gia đình, Ares thuyết phục người emPhạm-Ðộ. Miễn cưỡng, anh ta đi theo Ares ra bờ biển thâu hồi hai máy truyền tin. Họ đào hố chôn hai cái máy ở trong nhà.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyến xâm nhập của Ares coi như thành công. Ngày 9 tháng Tư, mấy ngư dân khám phá ra chiếc xuồng nhỏ của Ares. Tiếp theo sau là những cuộc khám xét làng đánh cá do lực lượng an-ninh. Sau khi xác định không ai làm chủ chiếc xuồng nhỏ, cuộc khám xét lan tràn ra bãi biển, và công-an tìm ra hố chôn dấu hai máy truyền tin.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghi ngờ điệp viên địch (miền nam) xâm nhập, viên chỉ huy lực lượng công an tỉnh Quảng Ninh thảo kế hoạch khám xét từng nhà, đặc biệt những nhà có người di cư vào nam, và những gia đình có liên hệ với chế độ thực dân trước đây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không biết chuyện đó, Ares vẫn trốn trong một cánh rừng gần đó. Anh ta đem theo một máy truyền tin, nhờ người em quay máy (crank), điệp viên Ares gửi đi bức điện văn đầutiên. Ðể tránh làn sóng bị giaothoa, Ares đánh tín hiệu từ bờ biển miền bắc Việt-Nam, vượt đại dương đến trạm Bugs, mật hiệu do cơ-quan CIA đặt cho trạm viễn thông ở Phi-Luật-Tân. Từ đó bản điện văn sẽ được tiếp vận, truyền đi đến cơ quan CIA tại Saigon. Robert Kennedy, nhân viên CIA bước vào phòng&lt;br /&gt;45 với bức điện văn trên tay vẫy-vẫy mừng rỡ nói lớn 'Thành công!'.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một phó bản bức điện văn của Ares được trình lên tổng-thống Diệm. Sau đó Ares gửi thêm hai mươi hai bản báo cáo nữa trong một thời gian gấp rút. Trong khi đó tại Quảng-Ninh, nhân viên phản-gián Bắc Việt dò làn sóng viễn thông để lấy những bản điện văn. Một cụ già cũng báo cáo cho công an rằng có người lạ tìm cách dấu mặt đang sống trong một căn chòi gần bãi biển. Cụ già nói thêm, có người trong nhà khoe một cây viết nguyêntử, vật ít thấy nơi miền bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với những điều thâu thập, công-an theo dõi nhà của gia đình Phạm Chuyên. Ngày 11 tháng Sáu, giới thẩm quyền bắtgiữ Phạm-Ðộ trong khi anh ta đem đồ tiếp tế vào rừng cho anh mình. Sáu ngày sau, họ khám phá ra máy truyền tin thứ hai chôn dấu trong nhà cùng với bản mật mã. (số phận người điệp viên Ares Phạm Chuyên ra sao???).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hà Nội có hai lựa chọn. Công bố vụ bắt được điệp viên Aresrồi đưa ra toà như nhóm Ðại-Việt trước đây, hoặc dùng Ares làm gián điệp đôi ép buộc Ares phải liên lạc thường xuyên với Saigon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðúng 9 giờ sáng ngày 8 tháng Tám, Saigon nhận được điện văn của Ares sau gần hai tháng mất liên lạc. Với sĩ-quan an-ninh Bắc Việt bên cạnh, người điệp viên cắt nghĩa về sự vắng mặt của mình. Mẹ và em gái anh ta không đủ tiền nạp thuế nông nghiệp, do đó anh ta phải lánh mặt lên Hà-Nội tạm thời. Saigon tạm tin vào những điều báo cáo của Ares và đồng ý gửi tiếp tế cho Ares theo lời yêu-cầu của anh ta. Chiếc Nautilus I lại rời Ðà-Nẵng ngày 12 tháng Giêng năm 1962 đem đồ tiếp tế cho Ares. Chiếc này đến vịnh Hạ-Long không gặp trở ngại, sau đó tự nhiên mất liên lạc vô tuyến một cách bí mật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phòng 45 lo ngại cho số phận chiếc Nautilus I cùng với thủy thủ đoàn, mặc dầu có sự nghi ngờ điệp viên Ares... Có lẽ chiếc tầu gặp tầu tuần duyên của Bắc Việt khi đến gần bãi biển. Phòng 45 cho đóng chiếc tầu khác lấy tên là Nautilus 2. Chiếc này sẵng sàng vào tháng Tư cùng với thủy thủ đoàn tuyển mộ từ những người Bắc di cư và huấn luyện tại Ðà-Nẵng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 11 tháng Tư, chiếcNautilus 2 rời Ðà-Nẵng ra Bắc hướng về vịnh Hạ-Long. Hai ngày sau ra đến ngoài khơi Quảng-Ninh. Sáu người trong nhóm mười bốn thủy thủ đoàn, xuống xuồng cao-su chở theo đồ tiếp vận cho Ares gồm bẩy hộp thiếc, và hai mươi ba hộp carton bọc trong bao plastic. Họ chèo xuồng đến một đảo nhỏ trong vịnh Hạ-Long, chất hàng lên đảo và lấy cây che đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi chiếc Nautilus 2 về đến Ðà-Nẵng an toàn, phòng 45 ăn mừng sự thành công của chuyến tiếp tế đầu tiên cho điệp viên Ares. Sau đó ngày 2 tháng Năm, họ gửi tín hiệu chỉ chỗ dấu hàngcho điệp viên Ares. Ít lâu sau, Ares báo cáo đã thâu hồi đồ tiếp vận kể cả máy truyền tin cùng với máy chụp ảnh 35mm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt; Kenneth Conboy, Dale Andradé.&lt;br /&gt;Carrollton, Cọp Khánh-Hòa &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-6272808492403148680?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/6272808492403148680/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=6272808492403148680' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/6272808492403148680'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/6272808492403148680'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/12/trong-chien-tranh-viet-nam-mot-on-vi.html' title=''/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SxVdH5inj6I/AAAAAAAAIos/hgkXavrJ7gA/s72-c/LOGO_SAMPLE.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-4770772937377963575</id><published>2009-07-21T15:08:00.001-07:00</published><updated>2009-12-03T17:57:15.338-08:00</updated><title type='text'>STRATA</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmYwijSE5rI/AAAAAAAAFKw/W0V5AIWRkCc/s1600-h/TrietxuatbangdaykeoH34.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 249px; height: 400px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmYwijSE5rI/AAAAAAAAFKw/W0V5AIWRkCc/s400/TrietxuatbangdaykeoH34.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5361025776575899314" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trong bài diễn văn lịch sử trên hệ thống truyền hình Hoa Kỳ ngày 31 tháng Ba năm 1968, tổng thống Johnson tuyên bố sẽ không ra tái tranh cử và ra lệnh chấm dứt ném bom ngoài vĩ tuyến 20 trên miền Bắc Việt-Nam. Theo lệnh trên, bộ Ngoại Giao nhấn mạnh cho đơn vị SOG biết, không được cho máy bay ra ngoài vĩ tuyến 20. Thi hành lệnh trên, đơn vị SOG coi như bỏ rơi sáu toán biệt-kích đã nhẩy dù xuống miền Bắc trước đây. Hà-Nội đã bắt được vài toán báo cáo sai lạc về cho đơn vị SOG. Trên tấm bản đồ miền Bắc Việt-Nam trong phòng hành quân có ghim tám cây kim mầu xanh, đánh dấu vị trí hoạt động của tám toán biệt kích. Nơi hướng tây bắc gần biên giới Trung-Hoa có bốn toán Remus, Easy, Tourbillon và Red Dragon. Hướng đông bắc, sát biên giới là toán Eagle, gần bờ biển có điệp viên Ares. Xuống dưới miền trung (Thanh-Hoá, Nghệ-An) có toán Hadley và Romeo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán Verse nhẩy dù xuống tăng cường cho toán Tourbillon ngày 7 tháng Mười Một năm 1965. Trong số tám người nhẩy xuống miền bắc, hai bị chết (dù không mở?). Ðiều này đáng nghi ngờ. Hai tuần sau, khi đã huấn luyện cho toán Tourbillon về kỹ thuật dò thám đường, toán Verse tự ý di chuyển ra khỏi vùng hoạt động. Trong mười tám tháng kế tiếp, toán Verse báo cáo lập được nhiều thànhquả, nhưng thực ra rất ít. Ðơn vị SOG ra lệnh cho toán Verse di chuyển đến một điạ điểm bí mật của cơ quan CIA bên Lào. Ðiều này toán không thi hành. Cuối cùng vào tháng Sáu năm 1967, phi đoàn Hành-Quân Ðặc Biệt 21 của SOG bên Thái-Lan dùng trực thăng bay vào miền Bắc Việt-Nam để bốc toán Verse, kết qủa một máy bay Hoa-Kỳ bị bắn rơi gần bãi đáp. Ba tuần sau, đài Hà-Nội loan tin bắt được toán Verse.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán Tourbillon gồm tám biệt kích nhẩy dù xuống miền Bắc ngày 16 tháng 5 năm 1962, một người chết khi xuống tới đất. Toán được tăng cường lần đầu vào tháng 11 cùng năm, cả bốn biệt kích quân đều tử nạn. Tháng 5 năm 1964, thêm bẩy người nhẩy dù xuống tăng cường cho toán Tourbillon, một người chết, đến tháng 7 toán Tourbillon&lt;br /&gt;nhận thêm 8 người, hai người chết. Tất cả biệt kích quân đều đã qua khoá huấn luyện nhẩy dù của đơn vị SOG, mặc đồ đặc biệt để bảo vệ thân thể, tuy nhiên số tổn thất quá cao. Có thể họ bị bắt, bị giết để làm gương cho những người còn sống 'phải hợp tác' Ngày 12 tháng 12 năm 1964, bốn người nhẩy xuống tăng cường cho toán Tourbillon, tám ngày sau hai bị chết trong một trận phục kích. Rồi đến toán Verse nhẩy xuống vào tháng 11 năm 1965, hai chết. Gần như mỗi lần nhẩy dù xuống miền Bắc đều có người chết. Hai lần trong năm 1966, đơn vị SOG tìm cách thâu hồi toán Tourbillon, cả hai chuyến đều phải hủy bỏ vì toán không lên máy vô tuyến liênlạc tại bãi đáp. Ðêm Giáng-Sinh năm 1966, toán Tourbillon nhận thêm hai người và hai tuần sau nhân viên truyền tin (người mới) bí mật gửi về một điện văn cho biết anh ta đã nằm trong tay địch quân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qua những biến cố kể trên, toán Tourbillon có lẽ đã nằm trong tay địch quân từ lâu. Khi toán Verse nhẩy dù xuống tăng cường cho Tourbillon, định mệnh đã an-bài cho các biệt kích quân trong toán. Phòng Nhì cơ quan MACV cùng với SOG giám định lại tình trạng các toán biệt-kích thả ngoài Bắc, họ đi đến kết luận tất cả các toán biệt kích đều bị địch bắt, kể cả điệp viên Ares.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay từ lúc khởi thủy, kế hoạch thả biệt kích ra ngoài Bắc đã gặp trở ngại. Chuyến&lt;br /&gt;thả dù đầu tiên trong tháng Ba năm 1961, bị trúng đạn phòng không và phải đáp xuống khẩn cấp. Tất cả biệt kích lẫn phi hành đoàn đều bị bắt hoặc bị giết. Trong năm 1963, cơ quan CIA thả mười ba toán biệt kích xuống miền Bắc, một toán bị đơn vị an ninh Bắc Việt bắt khi vừa xuống tới đất. Năm sau, thêm 5 toán bị bắt, một toán thoát. Chuyện này lập lại trong năm 1965 và 1966, mỗi năm một toán thoát, số còn lại bị bắt sống hoặc bị giết gần như tại bãi đáp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ năm 1961, cơ quan CIA và SOG huấn luyện, thả dù ra ngoài miền Bắc 54 toán biệt kích tất cả 342 người. Nhiều người rất can đảm, ái-quốc bị giết bị tra tấn trong những năm tháng tù đày ở ngoài Bắc. Kế hoạch 34-A là một thất bại trong ngành phản gián Hoa-Kỳ, cho đến nay nhiều chi tiết vẫn không được báo cáo rõ ràng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong trường hợp toán Remus, một tù binh Bắc Việt do quân đội Hoa-Kỳ bắt được cho biết, một toán biệt kích nhẩy dù xuống một nơi gần làng của anh ta và bị đơn vị công-an biên-phòng bắt ngay tức khắc. Khi người tù binh chỉ làng anh ta trên bản đồ, nơi đó gần điạ điểm thả dù toán Remus. Tin này làm rung động bộ chỉ huy đơn vị SOG. Làm sao quân Bắc Việt có thể 'hốt' toán biệt kích Remus một cách nhanh chóng, điạ điểm thả dù rất xa xôi, hẻo lánh?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong tháng Ba năm 1968, báo 'Nhân Dân' của đảng Cộng-Sản miền Bắc ra thông cáo án tử hình cho tất cả những hành động chống lạicách-mạng. Ðến đầu tháng Tám năm 1968, Bắc Việt cho biết đã bắt được ba toán biệt kích. Ðơn vị SOG chỉ còn lại năm toán Red Dragon, Hadley, Eagle, Ares và Tourbillon và họ sắp đặt trả đũa. SOG cho một toán biệt kích biết sẽ thả dù tiếp tế đựng trong thùng chứa có hình dạng giống như bom Napalm do phản lực F-4 thả. Lần này họ cho thả bom thứ thật, và tin rằng người nhận sẽ là đơn vị công-an biên-phòng chứ không phải toán biệt kích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong năm 1968, máy bay C123, C-130 của SOG thả tiếp tế (bom thật) ra ngoài Bắc&lt;br /&gt;tám chuyến. Công-An Biên-Phòng Bắc Việt sau đó không thèm nhận đồ tiếp tế thả cho các toán Hadley và Tourbillon nữa. Từ cuối năm 1967, SOG thả những toán biệt-kích STRATA, dò thám đường, tìm mục tiêu 150 dặm qua khỏi vùng phi quân sự. Vùng hoạt động của những toán Strata nằm dưới vĩ tuyến 20 nên không bị ảnh hưởng do lệnh giới hạn không tập ngoài vĩ tuyến 20 của tổng thống Johnson. Thời gian hoạt động trong lòng địch khoảng một hoặc hai tuần lễ. Mục tiêu cho những toán Strata dò thám là hệ thống đường xá dẫn đến các đèo Mụ-Già, Ban Karai và Ban Raving, rồi đổ vào hệ thống đường mòn Hồ-Chí-Minh. hầu hết các toán đều xâm nhập qua biên giới Lào khoảng 10 dặm, trong vùng đồi núi hiểm trở.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán viên Strata được huấn luyện như những toán biệt kích thả ra Bắc trước đây trong căn cứ bí mật ở Long Thành. Họ được huấn luyện riêng để bảo mật, sau đó đưa ra căn cứ gần núi Non-Nước ngoài Ðà-Nẵng. Tất cả mười bốn toán biệt kích Strata, số  toán trong khoảng từ 90 tới 122. Các toán Strata xâm nhập vào Bắc Việt-Nam phát xuất từ căn cứ không quân Nakhon Phanom bên Thái-Lan. Họ được phi cơ SOG C-130 Black Bird đưa vào căn cứ không quân và được lệnh 'ở bên trong' phòng làm việc của đơn vị SOG. Sau khi thay đổi quân phục sang quân phục của quân đội Bắc Việt, biệt kích quân lên trực thăng 'Pony' thuộc phi-đoàn 21 SOG Hành-Quân Ðặc-Biệt. Chỉ khoảng nửa giờ bay qua 65 dặm bề ngang nước Lào. Trực thăng phải bay lên cao độ 10 ngàn bộ tránh phòng không, sau đó bay theo mây dọc theo dẫy Trường-Sơn, rồi khi vào không phận Bắc Việt, bay thấp để tránh hoả tiễn SAM đến bãi thả biệt kích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả hoạt động đều chấm dứt ngày 15 tháng Mười năm 1968 sau cú điện thoại từ&lt;br /&gt;Washington đến Việt-Nam cho Ðại-Tá Cavanaugh chỉhuy trưởng đơn vị SOG. 'Ông có toán biệt-kích Strata nào vượt biên ra ngoài Bắc không?'. Một tướng lãnh trong Ngũ Giác Ðài hỏi Cavanaugh. Ông trùm SOG trả lời có hai toán đang hoạt động ngoài vĩ tuyến 17. Vịtướng lãnh ra lệnh 'Ông phải thâu hồi các toán biệt-kích trong vòng 24 tiếng đồng hồ'. Vị tướng cho biết thêm, Tổng-Thống Johnson sắp sửa ra lệnh hoàn toàn chấm dứt các phi tuần ném bom miền Bắc Việt-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðại-Tá Cavanaugh sau này than Washington không cần biết đến sinh mạng của những biệt kích quân đang kẹt ngoài Bắc. Muốn thâu hồi một toán biệt kích trong vòng 24 tiếng đồng hồ đâu phải chuyện dễ. Rất nhiều lý do trong vấn đề hành quân ngoại lệ, thời tiết v.v... đến ngày 23 tháng Mười, các toán biệt kích Strata mới về tới căn cứ ngoài Ðà-Nẵng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ lúc toán Strata đầu tiên xâm nhập cho đến khi mười ba tháng sau tất cả triệt xuất. Biệt kích Strata ra ngoài Bắc tất cả hai mươi sáu lần, mất tích 26 quân nhân, trong đó có hai toán bị mất hoàn toàn. Sự tổn thất do thời tiết xấu, kế hoạch cấp cứu toán biệt kích bị đình trệ, có khi đến năm ngày. Thiệt hại khoảng một phần tư trong số 102 biệt kích Strata.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cọp Khánh-Hòa &lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-4770772937377963575?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/4770772937377963575/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=4770772937377963575' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/4770772937377963575'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/4770772937377963575'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/07/strata.html' title='STRATA'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmYwijSE5rI/AAAAAAAAFKw/W0V5AIWRkCc/s72-c/TrietxuatbangdaykeoH34.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-5294330618893245450</id><published>2009-07-03T14:15:00.001-07:00</published><updated>2009-12-03T17:57:59.771-08:00</updated><title type='text'>Nha Kỹ Thuật / Trung Tá Trần Bá Tuân Sở Công Tác</title><content type='html'>&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk50_Tk_4aI/AAAAAAAAElM/Lme_4F9N7Vk/s1600-h/tuanvahoang.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 307px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk50_Tk_4aI/AAAAAAAAElM/Lme_4F9N7Vk/s400/tuanvahoang.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5354345637926134178" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Nha Kỹ-Thuật (NKT) là cơ quan tình báo chiến lược của QLVNCH, là một đơn vị đặc trách tổ chức, hoạt động sưu tầm tin tức tình báo, phản tình báo chiến lược từ nội bộ cộng sản Bắc Việt cũng như  trong hậu tuyến địch, những nơi có cơ sở, đơn vị cộng-sản trong và ngoài lãnh thổ VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khởi đầu là Phòng 6 TTM do trung tá Lung đảm trách. Trong thời đệ nhất Cộng Hòa là sở Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống và Lực Lượng Ðặc Biệt do đại tá Lê quang Tung làm tư lệnh. Sau cuộc chỉnh biến 11/63 cho đến tháng 4/75 lần lượt chỉ huy bởi các tướng Nghiêm, Quảng, Lam-Sơn, Phú, trung tá Lan, đại tá Hổ và cuối cùng là đại tá Nu. Danh xưng được đổi từ Phòng 6, đến sở Liên Lạc Phủ TổngThống, Lực Lượng Ðặc Biệt,sở Khai thác Ðiạ hình, và cuối cùng là Nha Kỹ Thuật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời đệ nhất Cộnghòa, mọi hoạt động được đại tá Tung trực tiếp nhận chỉ thị cũng như phúc trình với Tổng Thống Ngô đình Diệm và cố vấn Ngô đình Nhu. Cũng trong thời gian này, mọi hoạt động được cố vấn và yểm trợ bởi cơquan Trung-Ương Tình-Báo CIA Hoa Kỳ. Sau tháng 11/63 mọi hoạt động đều trực tiếp qua đại tướng TTMT bộ TTM và được cố vấn, yểm trợ bởi cơ quan tình báo quân sự Hoa Kỳ SOG (Study and Observation Group). Các đơn vị, cơ sở thuộc NKT gồm: sở Công Tác, sở Liên Lạc, sở Phòng Vệ Duyên Hải, sở Tâm Lý Chiến, sở Không Yểm và trung tâm huấn luyện Quyết Thắng. Sở Công Tác đóng tại Sơn Trà, Ðà Nẵng, đoàn 11, 72 đóng tại Ðà nẵng, đoàn 75 đóng trên Pleiku và đoàn 68 tại Saigon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các toán trong đoàn công tác được huấn luyện xâm nhập bằng hàng không hay đường bộ vào lòng địch tại Bắc Việt hay ngoại biên Lào, Miên hoặc Thái Lan. Sở Liên Lạc đóng tại Saigon, chiến đoàn 1 tạiÐà Nẵng, chiến đoàn 2 trên Kontum và chiến đoàn 3 tại Ban Mê Thuột. Các toán thuộc sở Liên Lạc xâm nhập vào hậu tuyến địch từ vĩ tuyến 17 trở vào cho đến mũi Cà Mau. Sở Phòng Vệ DuyênHải đóng tại Tiên Sa, Ðà Nẵng gồm Lực lượng Hải Tuần thuộc Hải Quân Việt Nam, xử dụng thuyền máy PCF, PT có tốc độ nhanh, hỏa lực mạnh để hoạt động phiá bắc hải phận vĩ tuyến 17. Lực lượng Biệt Hải được huấn luyện thành các toán Người Nhái để xâm nhập vào Bắc Việt bằng đường biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sở Tâm Lý Chiến đóng tại số 7 đường Hồng Thập Tự, Saigon tổ chức và điều hành đài Tiếng Nói Tự Do và đàiGươm Thiêng Ái Quốc. Ngoài ra sở TLC còn có nhiệm vụ gửi cán bộ ra Bắc hoạt động trong lãnh vực tâm lý chiến. Sở Không Yểm đóng tại Saigon thuộc Không Quân Việt Nam để phối trí phi đoàn trực thăng 219, phi đoàn quansát 110 tại Ðà Nẵng trong việc xâm nhập, liên lạc, hướng dẫn và triệt xuất các toán hoạt động trong lòng địch. Trung tâm huấn luyện Quyết Thắng tại Long Thành, Biên Hoà huấn luyện về chiến tranh ngoại lệ cho các toán, các phương pháp xâm nhập vào đãt địch, hoạt-động nơi hậuphương địch, du kích chiến, ám sát, bắt cóc, phá hoại, chiến tranh tâm lý v.v...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì lý do bảo mật, tuy cùng đơn vị, nhiều quân nhân NKT không được phép tiếp xúc hay tìm hiểu nhiệm vụ của một số chiến hữu khác. Các cơ quan, đơn vị NKT đồn trú trên khắp bốn vùng chiến thuật hạn chế tối đa sự liên lạc với các cơ quan  quân, dân, chính điạ phương. Vì vậy ít người biết về NKT hoặc chỉ biết mà không hiểu rõ về các hoạt động của NKT. Quân nhân, dân sự được tuyển chọn về NKT đều trải qua một cuộc điều tra tỉ mỉ về quá khứ và liên hệ. Tãt cả đều thuộc thành phần tình nguyện, các chiến sĩ NKT khi nhận nhiệm vụ đều thấu hiểu rằng đó là công tác gian nan nguy hiểm, khi ra đi ít hy vọng trở về an toàn. Bao nhiêu chiến sĩ đã hy sinh trên khắp vùng rừng núi Bắc Việt, ngoại biên và trong lãnh thổ VNCH.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những chiến công oanh liệt, những thành quả tối quan trọng, các chiến sĩ thuộc NKT chỉ được khen thưởng, tuyên dương âm thầm, kín đáo trong đơn vị. Trải qua 20 năm hoạt động, qua nhiều cấp chỉ huy, giám đóc, đường lối hoạt động của NKT cũng có phần ảnh hưởng bởi các thay đổi trong các cấp lãnh đạo và diễn biến chính trị quốc tế về Việt Nam. Nha Kỹ Thuật đã nhiều lần thay đổi về cơ cấu tổ chức và các hoạt động, tuy nhiên các chiến sĩ NKT luôn luôn vì Tổ Quốc sẵn sàng hy sinh, nêu cao tinh thần phục vụ cho Tự Do, cho Lý Tưởng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trần bá Tuấn,&lt;br /&gt;Ngày Quân Lực 1996 &lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-5294330618893245450?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/5294330618893245450/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=5294330618893245450' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/5294330618893245450'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/5294330618893245450'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/07/nha-ky-thuat-trung-ta-tran-ba-tuan-so.html' title='Nha Kỹ Thuật / Trung Tá Trần Bá Tuân Sở Công Tác'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk50_Tk_4aI/AAAAAAAAElM/Lme_4F9N7Vk/s72-c/tuanvahoang.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-6776935940637941550</id><published>2009-07-03T10:52:00.000-07:00</published><updated>2009-07-21T08:42:58.777-07:00</updated><title type='text'>Sở Phòng Vệ Duyên Hải</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk5ZlNEm12I/AAAAAAAAEk8/zIlGuCTTcH8/s1600-h/SPVDH23.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 221px; height: 221px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk5ZlNEm12I/AAAAAAAAEk8/zIlGuCTTcH8/s400/SPVDH23.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5354315502689113954" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;I. Phần Mở Đầu&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Cuộc chiến tranh tại Việt Nam giữa hai khối Quốc Gia và Cộng Sản diễn ra dưới nhiều hình thái trong đó đôi bên tìm đủ mọi cách để chiếm lợi thế và loại đối thủ ra ngoài vòng chiến. Nhiều sách báo và phim ảnh đã phân tích tỉ mỉ và tường thuật rất rõ ràng về những trận đánh nổi tiếng như Tết Mậu Thân, Hạ Lào, Quảng Trị, Kontum, An Lộc v.v... trong đó quân số đôi bên tham chiến lên tới nhiều sư đoàn. Tuy nhiên, ngoài mặt "nổi" hay chiến tranh qui ước nêu trên được nhiều người biết đến, còn có mặt "chìm" hay chiến tranh đặc biệt ít được phổ biến. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói tới chiến tranh đặc biệt, ngay kẻ trong cuộc cũng chỉ biết được phần nhiệm của mình, còn người bên ngoài lại càng không rõ, ngoài cái tên Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB). Nhìn chung, LLĐB gồm nhiều quân binh chủng thuộc QLVNCH, đôi khi có cả dân sự, có nhiệm vụ xâm nhập hậu phương hay vùng địch kiểm soát bằng những toán nhỏ để thu thập tin tức tình báo, phá hoại, bắt cóc hay tuyên truyền. Vì những cuộc hành quân "trong bóng tối" này rất nguy hiểm nên đại đa số nhân viên thuộc LLĐB đều là người tình nguyện. Chúng ta thường nghe nhắc đến những toán Lôi Hổ, Delta, Biệt Cách Dù v.v... thuộc Bộ Binh hoặc Phi Đoàn 219 của Không Quân, còn riêng về Hải Quân, ngoài lực lượng Biệt Hải, phần còn lại vẫn còn bao trùm trong màn bí mật. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong mỗi cuộc hành quân đặc biệt xâm nhập hậu tuyến địch, nhất là tại những vùng "ngoại biên" (ngoài lãnh thổ VNCH) như Bắc Việt, Lào, Cam Bốt, lực lượng tham dự thường chia làm hai thành phần: toán hành động, thường được gọi tắt là "toán" (team) có nhiệm vụ "đổ bộ" để thi hành công tác được trao phó và toán yểm trợ chịu trách nhiệm chuyên chở, đổ và bốc toán hành động cũng như yểm trợ hỏa lực khi cần. Các toán Bộ Binh vì không có phương tiện chuyên chở và yểm trợ cơ hữu như phi cơ hay tầu bè và nên chỉ có thể đảm nhiệm công tác hành động. Ngược lại, Không Quân vì không có toán hành động riêng nên chỉ có thể thi hành công tác chuyên chở và yểm trợ. Riêng Hải Quân là quân chủng duy nhất có thể tự đảm trách những cuộc hành quân đặc biệt vì trong tổ chức đã có đủ hai thành phần quan yếu nói trên. &lt;br /&gt;Ngoài ra, trong khi những cuộc hành quân đặc biệt do Phi Đoàn 219 và các toán Lôi Hổ, Delta v.v... chịu trách nhiệm phần lớn chỉ xảy ra trong lãnh thổ Việt Nam, Lào hay Cam Bốt, còn các vụ xâm nhập lãnh thổ Bắc Việt về sau này hầu như hoàn toàn do Hải Quân VNCH tự đảm trách bằng những đơn vị cơ hữu. Thành phần hành động của Hải Quân là Lực Lượng Biệt Hải, còn đơn vị yểm trợ và chuyên chở được gọi là Lực Lượng Hải Tuần (LLHT). Về phương diện hành quân, LLHT là đơn vị duy nhất thuộc LLĐB có thể tự thi hành một số công tác đặc biệt tại Bắc Việt như pháo kích các mục tiêu trên bờ, bắt giữ các ngư phủ để khai thác tin tức tình báo, thả truyền đơn v.v... mà không cần sự trợ giúp của các lực lượng khác. Cả hai Lực Lượng Hải Tuần và Biệt Hải nằm dưới quyền chỉ huy của Sở Phòng Vệ Duyên Hải (SPVZH). &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi tìm hiểu thêm về mặt tổ chức cũng như những hoạt động của SPVZH, tưởng cũng nên minh xác đôi điều để tránh mọi hiểu lầm đáng tiếc. Bài viết này căn cứ phần lớn vào những điều chúng tôi biết và còn nhớ qua 5 năm liên tiếp đảm nhiệm chức vụ Hạm Phó cũng như Hạm Trưởng nhiều khinh tốc đĩnh (PTF - Patrol Torpedo Fast) thuộc LLHT và đã tham dự trên 100 chuyến công tác đủ loại tại hải phận Bắc Việt từ năm 1965 đến 1970. Một số biến cố xảy ra trước và sau khoảng thời gian này chúng tôi chỉ được nghe kể lại hoặc thâu thập được trong những cuộc phỏng vấn những người trong cuộc mới đây. Vì vậy, dù cố gắng trình bày sự thật khách quan, nhưng thời gian thế nào cũng làm trí nhớ mai một phần nào, nên không sao tránh khỏi sai sót, mong những vị "biết chuyện", nhất là các bạn đồng đội cũ vui lòng đóng góp ý kiến và bổ khuyết để trang Hải Sử về LLHT được thêm phần trung thực. Chúng tôi cũng minh xác chỉ muốn trình bày sự thật, không hề có ý phê bình hoặc chỉ trích bất cứ ai, đặc biệt với những người chúng tôi hằng mến mộ và kính phục là các tác giả Việt - Mỹ đã bỏ công lao nghiên cứu, sưu tầm tài liệu và viết về SPVZH và LLHT. Trân trọng cám ơn. &lt;br /&gt;Vì SPVZH là một đơn vị thuộc LLĐB, tưởng cũng nên duyệt qua phần nhân sự cũng như tổ chức của lực lượng này để việc theo dõi được mạch lạc và dễ hiểu hơn. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;II. Sơ Lược Về Các Tổ Chức &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Xâm Nhập Miền Bắc &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngay sau khi hiệp định đình chiến Genève phân chia hai miền Nam - Bắc Việt Nam vừa được ký kết vào năm 1954, Giám Đốc Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) là ông Allen Dulles đã chỉ thị Đại Tá Không Quân Edward Lansdale sang Việt Nam để hỗ trợ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm củng cố Miền Nam cũng như tổ chức những cơ sở bán quân sự nằm vùng tại Bắc Việt trước khi Cộng Sản (CS) kiểm soát. Đại Tá Lansdale lúc đó đang đảm nhiệm chức vụ Phó Giám Đốc Phòng Hành Quân Đặc Biệt thuộc Bộ Quốc Phòng do Thiếu Tướng Graves Erskine làm Giám Đốc. Sở trường của ông là điều hành những hoạt động phản du kích "mật" trong bóng tối, trước đây đã giúp Tổng Thống Phi Luật Tân Magsaysay của Phi Luật Tân thành công trong việc tiêu diệt loạn quân CS Huk trong khoảng giữa thập niên 1950. Tổ chức của Đại Tá Lansdale tại Việt Nam được gọi là Phái Bộ Quân Sự Sài Gòn (Saigon Military Mission), trong đó còn có một chuyên viên điệp báo là Thiếu Tá Bộ Binh Lucien Conein, người sau này nắm giữ một vai trò rất quan trọng trong những cuộc chính biến dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay trước khi miền Bắc được trao cho CS, nhiều nhân viên dân sự người Việt do Đại Tá Lansdale tuyển mộ, đa số thuộc sắc tộc Nùng sinh trưởng tại vùng Móng Cái gần Hải Phòng và biên giới Hoa - Việt, đã được gửi sang đảo Saipan để huấn luyện về kỹ thuật xâm nhập, nằm vùng và phá hoại. Khi Việt Nam chính thức bị chia đôi, họ đã được huấn luyện thuần thục và chia thành từng toán nhỏ, sau đó được các chiến hạm Hoa Kỳ thuộc Đệ Thất Hạm Đội đổ bộ vào khu vực bờ biển gần nguyên quán. Những nhân viên này được lệnh trà trộn với thân nhân, "nằm yên" không hoạt động gì cả cho tới khi nhận được chỉ thị. Vũ khí, máy truyền tin và vàng đã được dấu sẵn trước tại những địa điểm bí mật để phòng khi cần tới. Một trong những "điệp viên chìm" trong thời gian này là Phạm Xuân Ẩn, nhưng Đại tá Lansdale không biết hắn là một tên VC nằm vùng được cài vào tổ chức của mình. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về phần Nam Việt Nam, sau khi tình hình tương đối ổn định, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng tổ chức riêng những cơ quan tình báo đặc biệt trực thuộc Phủ Tổng Thống do Bác Sĩ Trần Kim Tuyến người Huế đứng đầu. Một trong những bộ phận dưới quyền Bác Sĩ Tuyến, chuyên đảm nhiệm các hoạt động Biệt Kích là Sở Liên Lạc do Đại Tá Lê Quang Tung chỉ huy, Đại Tá Trần Khắc Kinh phụ tá. Người lo việc tuyển mộ nhân viên cho Sở Liên Lạc là Đại Úy Lê Quang Triệu, em ruột của Đại Tá Lê Quang Tung, lúc đó còn đảm nhiệm chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội Liên Binh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ. Ngoài ra, ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn cũng có những tổ chức điệp báo riêng biệt tại Miền Trung. &lt;br /&gt;Sở Liên Lạc chia thành 3 bộ phận chính, đó là Sở Bắc, Sở Nam và Liên Đội Quan Sát. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Sở Bắc &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Sở Bắc còn được gọi là Phòng 45 do Đại Úy Bộ Binh Ngô Thế Linh (sau này được thăng đến cấp Đại Tá), bí danh là "Bình" điều khiển. Tuy được mệnh danh là Sở Bắc nhưng cơ quan này không những chỉ đảm nhiệm các hoạt động Biệt Kich ở Bắc Việt, mà còn tổ chức những cuộc hành quân mật trên đất Lào và Cam Bốt. Tóm lại, Sở Bắc chịu trách nhiệm về những hoạt động Biệt Kích bên ngoài lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. &lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Sở Nam &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Sở Nam hay Phòng 55 do Đại Úy Bộ Binh Trần Văn Minh chỉ huy, chịu trách nhiệm về những hoạt động Biệt Kích trong lãnh thổ VNCH. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3. Liên Đội 1 Quan Sát &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngoài hai Sở Nam và Bắc, Sở Liên Lạc còn có một cơ cấu đặc biệt ít người biết đến, đó là Liên Đội Quan Sát 1 được thành lập vào năm 1956 với sự trợ giúp của Ngũ Giác Đài và CIA Hoa Kỳ. &lt;br /&gt;Bề ngoài, Liên Đội chỉ là một tổ chức thông thường với một số nhân viên trực thuộc về mặt hành chánh, nhưng mọi công tác đều do Sở Liên Lạc điều động. Những nhân viên của Liên Đội được đặc biệt huấn luyện để thi hành các công tác "nằm vùng" ngay tại Miền Nam trong trường hợp nơi này bị rơi vào tay CS sau cuộc Tổng Tuyển Cử theo tinh thần hiệp định Genève. Mãi cho tới năm 1958 dù cuộc tuyển cử đã bị hủy bỏ, các toán công tác thuộc Liên Đội vẫn còn thực hiện những vụ chôn giấu vũ khí, chất nổ, máy truyền tin, vàng v. III. Các Đường Xâm Nhập &lt;br /&gt;Tới năm 1958, khi tình hình miền Nam đã tương đối ổn định, Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới chính thức yêu cầu Hoa Kỳ trợ giúp để thực hiện những hoạt động Biệt Kích tại Bắc Việt. Vì vậy, khi ông Wìlliams Colby thuộc CIA được cử đến Sài Gòn vào ngày 1 tháng giêng năm 1959 để sắp đặt các cơ sở cần thiết, những hoạt động Biệt Kích phối hợp giữa Hoa Kỳ và Việt Nam mới được chính thức bắt đầu. Nhìn chung các hoạt động xâm nhập Miền Bắc gồm 2 ngả chính là đường hàng không và đường biển. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Xâm Nhập Bằng Đường Hàng Không &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Về đường hàng không, thoạt tiên, CIA mướn một số phi công thuộc công ty Hàng Không Trung Hoa (China Air Lines - CAL) ở Đài Bắc để huấn luyện những phi công Việt Nam. Sau này, Phi Đoàn Vận Tải của Không Quân Việt Nam do Trung Tá Nguyễn Cao Kỳ làm Phi Đoàn Trưởng kiêm luôn những chuyến bay thả dù đặc biệt ngoài Bắc. &lt;br /&gt;Chuyến bay đầu tiên được thực hiện vào ngày 27 tháng 5 năm 1961 do chính Trung Tá Nguyễn Cao Kỳ là phi công chính của chiếc phi cơ C-47. Bốn nhân viên của toán Caster được thả dù xuống một vùng rừng núi thuộc tỉnh Sơn La. Họ đều là người Nùng gốc Sơn La, nguyên là quân nhân thuộc Sư Đoàn 22 Bộ Binh, một đơn vị có đa số quân nhân thuộc gốc người thiểu số miền Bắc di chuyển vào miền Nam. Toán Caster được đặt dưới quyền điều động của Sở Khai Thác Địa Hình thuộc Phòng 45 tức là Sở Bắc. Trưởng toán Caster tên là Hà Văn Chấp. Sau khi hoàn tất công tác thả toán, phi cơ của Trung Tá Kỳ rời khỏi Bắc Việt an toàn bằng ngả không phận Lào. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Xâm Nhập Bằng Đường Biển &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Các hoạt động xâm nhập Bắc Việt bằng đường biển đã được khởi sự rất sớm, chỉ vài năm sau khi chia đôi đất nước. Những vụ xâm nhập bắt đầu vào năm 1956 khi Sở Liên Lạc cần một số ghe gỗ để chở nhân viên tăng cường cũng như tiếp tế vật liệu cho những toán "nằm vùng" ngoài Bắc bằng đường biển. &lt;br /&gt;Lúc đầu, chỉ có 6 nhân viên dân sự nguyên quán tỉnh Quảng Bình di cư được tuyển mộ tại Nha Trang để gia nhập lực lượng "biển" mới được thành lập này. Công tác bao gồm những chuyến đi ngắn chừng một vài ngày xâm nhập hải phận miền Bắc bằng những ghe nhỏ giống như ghe đánh cá ngoài Bắc để dễ trà trộn. Sau đó, vì nhu cầu công tác ngày một gia tăng, lực lượng xâm nhập "biển" tuyển mộ thêm nhiều nhân viên và trang bị thêm ghe lớn hơn. Lực lượng gồm toàn nhân viên dân sự này là một thành phần của Sở Bắc dưới quyền điều động của "ông Bình", có thể được coi là tiền thân của SPVZH và LLHT sau này. &lt;br /&gt;Tuy những chuyến tiếp tế và liên lạc bằng đường biển vẫn tiếp tục, nhưng mãi đến tháng 2 năm 1961, cơ quan mật vụ của Bác Sĩ Trần Quang Tuyến với sự trợ giúp cùa CIA Hoa Kỳ mới cho đổ bộ 2 điệp viên thực sự lên bờ biển Quảng Yên. Hai điệp viên này, một người gốc miền Nam, người thứ hai gốc miền Bắc tên là Phạm Chuyên lên bờ an toàn. Chuyên nguyên là một cán bộ trung cấp VC hồi chánh bằng cách vượt vĩ tuyến 17 vào năm 1959. Bí danh hoạt động của Chuyên là Ares. Sau này, có bằng cớ cho thấy Ares là một điệp viên nhị trùng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3. Ghe Nautilus &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Sau cuộc đổ bộ điệp viên này, các ghe dùng để xâm nhập hải phận Miền Bắc đều được đặt bí danh "Nautilus", lấy tên chiếc Tiềm Thủy Đĩnh bí mật của Hạm Trường Nemo trong cuốn truyện khoa học già tưởng "20,000 Dậm Dưới Đáy Biển" của văn hào Jules Verne. Các chuyến công tác cũng được gọi là Nautilus. Trong giai đoạn này, các chuyến xâm nhập bằng đường biển đều thành công tương đối dễ dàng. &lt;br /&gt;Đến lúc này, các công tác Nautilus đều do CIA điều hành. Thủy thủ đoàn Nautilus vẫn hoàn toàn là các nhân viên dân sự do CIA tuyển mộ, nhưng cũng đã có một số người nhái thuộc Hải Quân Việt Nam được CIA đặc biệt huấn luyện để thi hành những công tác phá hoại bằng chất nổ. Những người nhái này đa số thuộc toán 18 quân nhân được gửi đi thụ huấn khóa huấn luyện đặc biệt tại Đài Loan vào tháng 8 năm 1960. &lt;br /&gt;v... để chuẩn bị cho những công tác "nằm vùng" khi cần.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;IV. Thay Đổi Hệ Thống Chỉ Huy &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ban đầu, một số công tác Nautilus xâm nhập bằng đường biển đạt được kết quả khả quan vì địch chưa kịp đề phòng cũng như ứng phó. Nhưng càng về sau, hiệu năng càng giảm sút vì địch gia tăng lực lượng duyên phòng cũng như bị phản nên nhiều chuyến công tác bằng ghe đã thất bại vì bị lộ. &lt;br /&gt;Việc dùng ghe chỉ được lợi điểm có thể trà trộn với các thuyền đánh cá địa phương, nhưng nhờ khai thác tin tức từ các thủy thủ đoàn bị bắt, địch đã biết khá rành rẽ về đường đi nước bước của các chuyến xâm nhập nên cũng khó lòng lẩn tránh. Hơn nữa, các ghe Nautilus đều có vận tốc chậm và hỏa lực yếu nên không thể tự vệ khi bị phát hiện và săn đuổi. &lt;br /&gt;Vì những lý do trên, Đô Đốc Harry G. Felt, Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (CINPAC - Commander In Chief, Pacific) cho rằng những tổ chức mật vụ của CIA không đủ khả năng để hoàn thành sứ mạng xâm nhập. Ông đề nghị dùng các phương tiện của Hải Quân Hoa Kỳ, trong đó có cả việc dùng tiềm thủy đĩnh thay thế cho các ghe Nautilus. Vào khoảng tháng 7-62, Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara triệu tập một buổi họp giữa Bộ Quốc Phòng, Bộ Ngoại Giao và CIA để tìm giải pháp. Mọi người đồng ý chuyển giao phần điều hành các hoạt động biệt kích xâm nhập Bắc Việt từ CIA qua Bộ Quốc Phòng. Việc chuyển giao sẽ được hoàn tất trong vòng một năm dưới kế hoạch mang bí danh Switchback. Tới tháng 12 năm 1962, Toán Đặc Biệt (Special Group) thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (National Security Council) cũng chấp thuận đề nghị của Đô Đốc Felt trước đây về việc xử dụng khinh tốc đĩnh và người nhái để đảm nhiệm những công tác đổ người lên miền Bắc. Tuy nhiên lúc đó cả tầu lẫn người nhái đều chưa có. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kế hoạch Switchback chính thức khởi đầu vào ngày 1 tháng giêng năm 1963. Từ đó, Bộ Tư Lệnh Quân Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn (MACV - Military Assistance Command Vietnam) chính thức thay thế CIA đảm nhiệm các công tác dọc theo biên giới lúc bấy giờ đang do nhân viên CIA Gilbert Layton chỉ huy. Đại Tá Geoge Morton thay thế Layton, thành lập Toán C Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB), đặt bản doanh tại Nha Trang với Layton ở lại làm phụ tá. Riêng các hoạt động ngoài Bắc, tuy do MACV điều động nhưng nhân viên CIA W.T Chenney vẫn chịu trách nhiệm. Tháng 4 năm 1963, một trung tâm huấn luyện LLĐB cũng được thiết lập tại Long Thành để huấn luyện các toán sẽ được thả ra ngoài Bắc trong khi CIA chuẩn bị bàn giao các hoạt động xâm nhập miền Bắc cho các giới chức quân sự. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;V. Kế Hoạch 34A (OPLAN 34A) &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng 5 năm 1963, Bộ Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ chỉ thị Đô Đốc Harry G. Felt soạn thảo dự án yểm trợ chính quyền miền Nam Việt Nam thi hành những công tác đặc biệt ngoài Bắc. Tháng 6 năm 1963, Đô Đốc Felt và Bộ Tham Mưu phác họa kế hoạch hành quân sơ khởi dùng chiến thuật "đánh bất ngờ" (hit and run) với mục tiêu chiến lược buộc miền Bắc giảm bớt nỗ lực quân sự tại miền Nam. Theo kế hoạch này, quân lực VNCH đảm trách về phần nhân viên, còn Hoa Kỳ sẽ cung cấp phương tiện và huấn luyện. Kế hoạch soạn thảo sơ khởi mang tên OPLAN 34-63 được trình lên Bộ Tham Mưu Liên Quân (Joint Chiefs of Staff) và chấp thuận trên nguyên tắc vào ngày 14 tháng 8, chỉ một vài chi tiết nhỏ được yêu cầu thay đổi. Kế hoạch được tu chỉnh và được chấp thuận lần nữa vào ngày 9 tháng 9. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc Hội Nghị về Việt Nam tại Honolulu vào ngày 20 tháng 10, Williams Colby, lúc đó đã được thuyên chuyển về Hoa Thịnh Đốn giữ chức vụ Giám Đốc CIA toàn vùng Viễn Đông thay vì chỉ riêng có VN như trước, ngỏ ý với Bộ Trưởng Quốc Phòng rằng, theo kinh nghiệm của CIA, kế hoạch thả các toán nhỏ vào Bắc Việt sẽ không thành công. Nhưng các giới chức cao cấp Hoa Kỳ không đồng ý, cho rằng sở dĩ CIA thất bại vì thiếu phương tiện và khả năng, do đó chỉ thị cho CIA bàn giao kế hoạch xâm nhập miền Bắc lại cho quân đội. &lt;br /&gt;Trong lúc việc chuẩn bị tiến hành khả quan. một biến cố bất ngờ xảy ra khiến một số dự tính bị đảo lộn. Đó là cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào ngày 3 tháng 11 năm 1963 đã làm xáo trộn phần nhân sự về phía Việt Nam trong kế hoạch hành quân. Hai người cầm đầu ban Mật Vụ của Tổng Thống Diệm là Bác Sĩ Trần Kim Tuyến và Đại Tá Lê Quang Tung không còn nữa. Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm nhận chức Chỉ Huy Trưởng LLĐB rồi tới Đại Tá Lam Sơn Phạm Đình Thứ thay thế chỉ mấy tháng sau đó. Tuy nhiên, cả Phòng 45 tức Sở Bắc và Phòng 55 tức Sở Nam vẫn do Ngô Thế Linh và Trần Văn Minh điều khiển. &lt;br /&gt;Tuy nhiên, dù gặp trở ngại nhưng các công tác biệt kích bằng đường biển vẫn được tiến hành. Trong khuôn khổ kế hoạch 34-63, vào tháng 11 năm 1963, một số người nhái thuộc toán công tác đường biển rời Đà Nẵng ra Căn Cứ Hải Quân Cửa Việt để thực tập chuẩn bị cho công tác đánh phá tầu bè tại các quân cảng Bắc Việt gần vĩ tuyến 17 Bắc. Chuyến công tác được dự trù vào tháng 12 năm 1963, mục tiêu là những chiến đĩnh Bắc Việt tại căn cứ Hải Quân Quảng Khê nằm ở cửa sông Giang thuộc tỉnh Quảng Bình, nơi đặt Bộ Chỉ Huy Hải Quân Vùng Nam của Bắc Việt. Trước ngày công tác, các cố vấn Mỹ cho xem không ảnh căn cứ Quảng Khê. Nhưng chuyến công tác bị hủy bỏ nửa chừng vì thời tiết xấu. Một trong những người nhái tham dự là anh Vũ Văn Gương. &lt;br /&gt;Cho tới cuối năm 1963, dù có tiến bộ về mặt huấn luyện, nhưng những hoạt động bìệt kích vẫn không thâu thập được thành quả khả quan như ý muốn. Lý do vì tổ chức chưa được chặt chẽ và nhân viên phần lớn vẫn còn là dân sự nên thiếu huấn luyện chuyên môn cũng như kỷ luật quân đội, do đó cần sự tham gia tích cực của QLVNCH. Để hữu hiệu hóa các hoạt động, cả CIA và MACV được chỉ thị tu chỉnh OPLAN 34-63. Sau một thời gian làm việc, kế hoạch mới tu sửa mang tên OPLAN 34A, đặt trọng tâm vào việc xâm nhập bằng đường biển, được đệ trình Bộ Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ vào ngày 15 tháng 12 (CIA gọi là Kế Hoạch Tiger). Trước đó không lâu, vào ngày 12 tháng 12, Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara đã báo tin cho Đại Sứ Cabot Logde biết rằng Tổng Thống Johnson muốn đẩy mạnh những cuộc hành quân đặc biệt nhắm vào miền Bắc do lực lượng Nam Việt Nam đảm trách với sự hỗ trợ của quân lực Hoa Kỳ. Những cuộc hành quân này sẽ mang nhiều cường độ khác nhau để ngầm thông báo cho Bắc Việt rõ rằng Hoa Kỳ không chấp nhận việc CS xâm lăng miền Nam và nếu Bắc Việt cứ ngoan cố xử dụng võ lực, họ sẽ bị đánh bại. Nói tóm lại, mục đích chính của OPLAN 34A là phối hợp với các áp lực về quân sự và ngoại giao để cảnh cáo Bắc Việt không được gia tăng hoạt động ở Lào cũng như Nam Việt Nam. Như vậy, từ một kế hoạch đổ biệt kích do CIA điều khiển với mục tiêu thâu thập tin tức tình báo và phá hoại, OPLAN 34A vào giai đoạn này đã trở thành một kế hoạch nặng về chính trị.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Đáp ứng chỉ thị của thượng cấp, cũng vào ngày 15 tháng 12, Hải Quân Hoa Kỳ thành lập Toán Yểm Trợ Lưu Động (MST - Mobile Support Team) tại Đà Nẵng. Toán này gồm một số người nhái HQ (SEAL), các sĩ quan chuyên về tình báo của Thủy Quân Lục Chiến và nhiều chuyên viên hành quân Biệt Hải Hoa Kỳ. Ngoài ra, còn có thủy thủ đoàn của hai Khinh Tốc Đĩnh (PT Boats) vừa mới tới Đà Nẵng. Nhiệm vụ của Toán MST là huấn luyện thủy thủ đoàn Việt Nam trong tương lai về cách xử dụng Khinh Tốc Đĩnh sẽ được dùng trong các công tác Biệt Hải, cũng như lo việc sửa chữa và yểm trợ. &lt;br /&gt;Đến ngày 19 tháng 12, Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ Tại Thái Bình Dương yêu cầu Bộ Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ cho phép thi hành kế hoạch mới OPLAN 34A trong khoảng thời gian 12 tháng để trắc nghiệm. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VI. Thành Lập MACSOG Và Nha Kỹ Thuật &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Một điều đáng để ý là tuy OPLAN 34A dự trù xử dụng quân lực miền Nam, nhất là quân chủng Hải Quân, nhưng phía VNCH lại không được tham khảo ý kiến khi soạn thảo để kịp thời chuẩn bị. Mãi tới ngày 21 tháng giêng năm 1964, khi kế hoạch đã được Bộ Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ đồng ý cho thi hành đợt 1, Đại Sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Logde mới thông báo với Quốc Trưởng Việt Nam Dương Văn Minh về kế hoạch OPLAN 34A cùng cho biết chính phủ Hoa Kỳ đã chấp thuận kế hoạch này và yêu cầu VIệt Nam hợp tác bằng cách cho quân đội tham gia. Ngày 24 tháng giêng, Toán Hành Quân Đặc Biệt (Special Operations Group - SOG) được chính thức thành lập do Đại Tá Clyde Russell chỉ huy, dưới quyền điều động của Phái Bộ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV). Do đó, cơ quan đảm trách những cuộc hành quân đặc biệt này thường được gọi tắt là MACV-SOG hay MACSOG. Sau này, vào năm 1964, tên Special Operation Group được đổi là Studies and Observation Group (Toán Nghiên Cứu và Quan Sát) cho có vẻ "dân sự" hơn, nhưng tên viết tắt vẫn là MACSOG.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Nhìn chung, kế hoạch OPLAN 34A do MACSOG chịu trách nhiệm và gồm có 4 thành phần chính: thả toán bằng phi cơ, tiếp tế bằng phi cơ, hoạt động đường biển và chiến tranh tâm lý. Trong số này, toán "hàng không" có đông nhân viên nhất vì được thừa hưởng 169 nhân viên Việt Nam đa số là dân sự đang được huấn luyện tại Long Thành do CIA để lại.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Ngày 28 tháng giêng năm 1964, cuộc chỉnh lý củaTướng Nguyễn Khánh khiến kế hoạch của MACSOG bị chậm lại vì Hoa Kỳ cần phải được sự chấp thuận và hợp tác của chính phủ mới. Tướng Khánh là một người chủ trương "Bắc Tiến" nên tới ngày 12 tháng 2, Sở Kỹ Thuật (Strategic Technical Service - STS) thuộc Bộ Quốc Phòng VNCH được thành lập do Đại Tá Trần Văn Hổ chỉ huy để hoạt động song hành với MACSOG. Sở Kỹ Thuật là hậu thân của Sở Khai Thác Địa Hình (Topographic Exploitation Service) trước đây của Đại Tá Lê Quang Tung dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Về sau, Sở Kỹ Thuật được đổi tên thành Nha Kỹ Thuật (Strategic Technical Directorate - STD). &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VII. Sở Phòng Vệ Duyên Hải &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Về phương diện chỉ huy, chính phủ Hoa Kỳ (Hoa Thịnh Đốn) hoàn toàn đảm nhiệm phần kiểm soát và thiết kế hành quân, MACSOC và Nha Kỹ Thuật tại Việt Nam đảm nhiệm việc thi hành. Cả MAGSOC lẫn Nha Kỹ Thuật đều hầu như không có tiếng nói hay ảnh hưởng nào về mặt đề nghị, cho phép và sắp đặt thời khóa biểu cho các cuộc hành quân. &lt;br /&gt;Về phương diện tổ chức, phía Hoa Kỳ, dưới MACSOG có Phái Bộ Cố Vấn Hải Quân (Naval Advisory Detachment - NAD) hay còn được gọi là Toán Hành Quân Đường Biển (Maritime Operation Group - MAROP) chuyên lo về các cuộc hành quân biệt hải có nhiệm vụ thả biệt kích, bắn phá các tầu bè, cơ sở quân sự cũng như mở các cuộc hành quân thăm dò dọc duyên hải Miền Bắc. Về phía Việt Nam, trực thuộc Nha Kỹ Thuật có Sở Phòng Vệ Duyên Hải (Coastal Security Service - CSS) làm việc hàng ngang với NAD. Hai cơ quan này thường được gọi chung là NAD/CSS đều đặt trụ sở tại tòa nhà Bạch Tượng (White Elephant) Đà Nẵng đễ dễ bề phối hợp các hoạt động. Các giới chức chỉ huy của SPVZH phối hợp khá chặt chẽ với NAD trong việc điều động nhân viên công tác, thuyết trình trước và sau mỗi cuộc hành quân v.v... Ngoài cơ quan NAD, SPVZH cũng làm việc rất chặt chẽ với toán huấn luyện và yểm trợ MST.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Trước đây, khi toán xâm nhập đường biển còn hoạt động dưới quyền điều động trực tiếp của CIA, tuy có một số nhỏ người nhái HQVN, nhưng nhân viên của những ghe Nautilus đều là dân sự. Khi kế hoạch Switchback chuyển giao quyền kiểm soát các cuộc hành quân đặc biệt từ CIA sang quân đội Hoa Kỳ, ghe Nautilus dần dần được thay thế bằng những chiến đĩnh tối tân hơn, LLHT cũng được thành lập gồm những sĩ quan và đoàn viên thuộc Hải Quân VNCH đặc biệt tuyển chọn để làm thủy thủ đoàn. LLHT đặt dưới quyền điều động của Sở Phòng Vệ Duyên Hải (SPVZH) trực thuộc Nha Kỹ Thuật.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Đa số nhân viên SPVZH là quân nhân, trong số này phần lớn là Hải Quân, đôi khi có một số rất nhỏ thuộc Bộ Binh. SPVZH làm việc ngang hàng với cơ quan NAD của Hoa Kỳ trong việc chỉ định các toán công tác, huấn luyện và bảo trì chiến đĩnh. Về mặt hành chánh, các quân nhân Hải Quân thuộc SPVZH được coi như biệt phái từ Hải Quân. Chỉ Huy Trưởng SPVZH là một sĩ quan cao cấp Hải Quân. Các vị Chỉ Huy Trưởng SPVZH đều là những sĩ quan thâm niên, nhiều kinh nghiệm; sau này có tới bốn cựu Chỉ Huy Trưởng được thăng đến cấp Phó Đề Đốc. &lt;br /&gt;Ngoài một số cơ cấu hành chánh, SPVZH có hai đơn vị trực thuộc chính, đó là Lực Lượng Hải Tuần (LLHT) và Lực Lượng Biệt Hải, đôi khi còn gọi tắt là Biệt Hải. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Lực Lượng Hải Tuần &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;LLHT là cơ cấu đông nhân viên nhất, có thể coi là thành phần nồng cốt của SPVZH, nên đôi khi có một số người, kể cả những người trong Hải Quân chỉ biết đến LLHT, ít khi nghe nói tới SPVZH. Thực sự, LLHT chỉ là một đơn vị trực thuộc SPVZH cũng như Biệt Hải. Để hiểu rõ thêm, cần thấu triệt về nhiệm vụ, doanh trại, nhân viên, trang bị và những hoạt động của LLHT. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;A . Nhiệm Vụ &lt;/strong&gt;Nhiệm vụ chính của LLHT là thi hành những công tác hành quân đặc biệt bằng đường biển trong vùng lãnh hải Bắc Việt từ vĩ tuyến 17 Bắc trở lên. Về phương diện này, có thể coi LLHT tương tự như Phi Đoàn 219 của KQVN chuyên thả các toán xâm nhập bằng trực thăng. Nhưng ngoài nhiệm vụ thả và vớt các toán Biệt Hải tại vùng duyên hải Bắc Việt, các chiến đĩnh thuộc LLHT còn thực hiện nhiều công tác riêng biệt khác như pháo kích, chận bắt tầu bè, chiến tranh tâm lý v.v... sẽ đề cập tới ở phần sau. &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;B. Doanh Trại &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Doanh trại LLHT nằm ngay dưới chân núi Khỉ (Monkey Mountain) thuộc bán đảo Sơn Chà, Đà Nẵng, cạnh khu quân cảng Deep Water Pier, nơi các tầu chở hàng lớn của Hoa Kỳ như SEALAND cập để bốc rỡ hàng hoặc các tầu đổ bộ thuộc Hải Quân Hoa Kỳ ủi bãi. Doanh trại này cách Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải không xa. Từ Đà Nẵng đi vào, phải đi qua trạm kiểm soát tại Cầu Trắng, thấy bãi ủi Deep Water Pier ở bên trái rồi tới trại LLHT ở bên phải. Xa hơn nữa là các cơ sở thuộc BTL/HQ/V1DH. &lt;br /&gt;Trại gồm hai dãy nhà một tầng, mái lợp fibro-xi măng nằm song song, dãy nhà trên cao gần chân núi dành cho sĩ quan và dãy nhà phía dưới gần đường lộ dành cho thủy thủ đoàn. Khu nhà sĩ quan được chia ra thành nhiều phòng nhỏ, mỗi phòng dành cho 2 sĩ quan. Cứ hai phòng có chung một nhà tắm. Khu đoàn viên gồm những nhà dài, không chia thành phòng. Thủy thủ đoàn của mỗi chiến đĩnh chiếm một nhà làm phòng ngủ. &lt;br /&gt;Trong doanh trại, ngoài các phòng ngủ, còn có các cơ sở khác như câu lạc bộ, nhà kho v.v... &lt;br /&gt;Cầu tầu PTF và các công xưởng sửa chữa cũng như bảo trì của MST nằm gần Deep Water Pier, đối diện với khu doanh trại qua con đường nhỏ. &lt;br /&gt;C. Trang Bị &lt;br /&gt;Kể từ khi Toán Xâm Nhập Đường Biển mới thành hình vào năm 1956 cho tới lúc SPVZH chính thức thành lập vào đầu năm 1964, các phương tiện chuyên chở thay đổi tùy theo thời gian và nhu cầu công tác. Mới đầu, toán xâm nhập dùng ghe loại đánh cá, sau đó đến các loại tầu bè tối tân hơn như duyên tốc đĩnh PCF và cuối cùng là loại khinh tốc đĩnh PTF. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Ghe Nautilus &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Như chúng ta đã biết, thoạt đầu khi Lực Lượng Xâm Nhập Đường Biển được thành lập và do CIA chỉ huy, phương tiện hoạt động duy nhất là các ghe Nautilus. Đây là các ghe gỗ khá lớn dài chừng 30 thước, có mui, trông giống những ghe đánh đánh cá xa bờ ở vịnh Bắc Việt. Ghe chạy bằng buồm nhưng có gắn máy có vận tốc dưới 10 gút (hải lý/giờ). Võ khí trang bị gồm có đại liên giấu trong khoang ghe và vũ khí cá nhân của thủy thủ đoàn.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Cho tới giữa năm 1963, tại Đà Nẵng có 7 ghe đặt tên Nautilus 1 tới 7 chuyên dùng để xâm nhập hải phận miền Bắc. Lúc đó thành phần này đặt dưới quyền chỉ huy của Đại Úy Ngô Thế Linh, trực thuộc LLĐB của Đại Tá Lê Quang Tung. Thủy thủ đoàn của những chiếc ghe Nautilus phần đông là dân sự gốc Nghệ An, Hà Tĩnh di cư hay sắc tộc Nùng sinh trưởng tại miền Bắc. Một số sĩ quan Hoa Kỳ và Việt Nam huấn luyện thủy thủ đoàn và các toán đổ bộ. Thủy thủ đoàn của mỗi ghe được thay đổi và bổ xung tùy theo nhu cầu công tác.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Vào các năm 1962-63, những ghe Nautilus xâm nhập miền Bắc nhiều lần để tiếp tế, đổ biệt kích và phá hoại thành công vì có thể dễ dàng trà trộn với ghe ngư phủ địa phương, dù vận tốc ghe này rất chậm, phải mất khoảng 24 giờ mới từ căn cứ xuất phát Đà Nẵng tới được mục tiêu Quảng Khê nằm dưới vĩ tuyến 18 Bắc. Sau này, vì bị phản bội cũng như địch biết được đường giây xâm nhập nên ghe Nautilus không còn hữu dụng. Đặc biệt trong chuyến công tác đánh phá căn cứ hải quân Quảng Khê của VC tại cửa sông Gianh vào ngày 28 tháng 6 năm 1962, vì hỏa lực yếu và vận tốc chậm nên ghe Nautilus II bị tầu VC đuổi kịp và đánh chìm. Từ đó CIA thay thế các ghe Nautilus bằng các duyên tốc đĩnh (PCF - Patrol Craft Fast) còn gọi là "Swift" nhanh hơn và hỏa lực mạnh hơn.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Duyên Tốc Đĩnh PCF (Swift)&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;Vì các ghe Nautilus đã bị lỗi thời không còn thích hợp để xử dụng trong các công tác xâm nhập miền Bắc nên vào giữa năm 1963, ba duyên tốc đĩnh đĩnh mới loại PCF (Patrol Craft Fast) còn được gọi là Swift được dùng để thay thế. Đây là loại duyên tốc đĩnh tương đối nhỏ, tầm hoạt động chỉ lên đến Đồng Hới. Sau này, trong chương trình Việt Hóa chiến tranh, HQVNCH được trang bị rất nhiều loại duyên tốc đĩnh này để thành lập những Hải Đội Duyên Phòng.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Swift là loại tuần duyên đĩnh mũi ngắn, sườn nhôm, dài chừng 50 bộ do hãng đóng tầu Seward Seacraft ở Burwick, Louisiana chế tạo. Tầu trọng tải 19 tấn, tầm nước 3.5 bộ, gắn 2 máy diesel và có vận tốc tối đa chừng 28 gút. Vũ khí trang bị gồm có một đại liên 50 (12 ly7) gắn trên nóc phòng lái; sân sau có một súng cối 81 ly trực xạ trên gắn đại liên 50. Thủy thủ đoàn gồm có 5 người.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;So với loại ghe Nautilus, duyên tốc đĩnh Swift tuy nhanh và trang bị hỏa lực khá mạnh nhưng tầm hoạt động tương đối ngắn, chỉ lên đến Đồng Hới. Tuy vậy, Swift vẫn không phải là đối thủ của các tầu tuần duyên loại P-4 có vận tốc nhanh hơn và Swatow trang bị đại bác 37 ly của Bắc Việt. Do đó, vì nhu cầu công tác đòi hỏi, vào khoảng đầu năm 1964, SPVZH được trang bị các chiến đĩnh loại Khinh Tốc Đĩnh (PTF - Patrol Torpedo Fast) lớn hơn, tầm hoạt động xa hơn, có vận tốc cao và hỏa lực mạnh hơn. Việc xử dụng PTF và người nhái tại Việt Nam đã được Khối Hành Quân Đặc Biệt của Hoa Kỳ chính thức đề nghị trong văn kiện đề ngày 27 tháng 9 năm 1962.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Khinh Tốc Đĩnh PTF &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Tổng cộng có ba loại PTF được dùng ở Việt Nam: PTF cũ thời đệ nhị thế chiến, PTF loại "Nasty" do Na Uy chế tạo và PTF loại "Osprey" do Hoa Kỳ đóng. Điểm đặc biệt là tất cả các ống phóng ngư lôi đều được tháo gỡ vì đối thủ Bắc Việt chỉ có các loại tầu nhỏ, không phải là mục tiêu của loại vũ khí này. Súng ống trang bị trên các PTF cũng được biến cải để phù hợp với nhiệm vụ trao phó.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Các PTF được đặt dưới quyền điều động của MST, vào tháng 3/64 do Đại Úy Burton Knight chỉ huy. MST trực thuộc MACSOG tại Sài Gòn. Về hệ thống chỉ huy, trên MACSOG là SACSA (Special Assistant for Counterinsurgency and Special Activities) thuộc Ngũ Giác Đài và Hội Đồng 303 (Committee 303) thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (National Security Council - NSA). Tuy nhiên, những nhân viên Hoa Kỳ ở Đà Nẵng thuộc Toán Yểm Trợ Hành Quân Hải Quân (Naval Operation Support Group) đặt căn cứ tại Coronado, California do Đại Tá Phil H. Bucklew chỉ huy. Toán này chịu trách nhiệm về các hoạt động đặc biệt của Hải Quân Hoa Kỳ trong vùng Thái Bình Dương cũng như quản trị nhân viên do Toán cung cấp cho SOG để xử dụng trong các hoạt động tại Việt Nam..&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;+ PTF Loại Cũ &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Hai PTF đầu tiên được dự trù trang bị cho LLHT là loại cũ từ thời đệ nhị thế chiến (giống PT 109 của TT Kennedy), dùng máy Packard chạy bằng xăng máy bay nên còn được gọi là "tầu xăng". Ngay từ lúc đầu, các giới chức quen thuộc với công tác Biệt Hải tại Đà Nẵng cũng như Sài Gòn đã không tán thành việc xử dụng loại PTF cũ này, nhưng Hoa Thịnh Đốn ra lệnh cứ dùng thử. Do đó, vào khoảng tháng giêng năm 1963, Hải Quân Hoa Kỳ tân trang 2 chiến đĩnh là các PT-810 và PT-811 đang tồn trữ tại Hải Quân Công Xưởng Philadelphia. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là kiểu Ngư Lôi Đĩnh dùng trong đệ nhị thế chiến nhưng được đóng vào năm 1950. Vũ khí trang bị nguyên thủy gồm ống phóng ngư lôi, 2 đại bác 40 ly một ở trước mũi và một ở sân sau, 2 đại bác 20 ly, 2 đại liên 50 bên hông. Khi sang Việt Nam, khẩu đại bác 40 ly trước mũi được cắt bỏ và thay bằng khẩu súng cối 81 ly trực xạ gắn thêm đại liên 50. Hai PT này được đổi tên là PTF-1 và PTF-2. Sau khi chạy thử, cả 2 chiếc PTF gặp khá nhiều trở ngại kỹ thuật nên được giữ lại tại công xưởng Philadelphia để sửa chữa. Vào khoảng thời gian này, Hải Quân Hoa Kỳ cũng vừa nhận được 2 chiếc PTF mới loại "Nasty" đặt mua từ Na Uy, đặt tên là PTF-3 và PTF-4. &lt;br /&gt;Ngày 19 tháng giêng năm 1964, các PTF-1và PTF-2 được chiến hạm Pioneer Myth chở từ Norfolk đến Subic Bay vào đầu tháng 2 và đến Việt Nam khoảng tháng 3 năm 1964. Lúc này, các PTF-3 và PTF-4 loại "Nasty" cũng đã tới Việt Nam từ trước, vào khoảng cuối tháng 2/64. Các PTF-1 và PTF-2 được chạy thử tại Đà Nẵng và nhận thấy rằng không được an toàn và hữu hiệu vì nhiều lý do. Thứ nhất, tầu chạy bằng xăng nên có thể phát nổ dễ dàng nếu bị trúng đạn trong lúc công tác. Thứ hai máy nổ rất ồn ào, gây nhiều tiếng động nên không thích hợp cho việc thả và vớt toán vì dễ bị lộ. Thứ ba, máy rất khó tái khởi động sau khi tắt vì hơi bị kẹt trong lòng máy. Điều này rất nguy hiểm vì sau khi thả toán, chiến đĩnh có thể phải tắt máy để tránh gây tiếng động, nhưng vẫn có thể cần khởi động ngay trong trường hợp khẩn cấp. Thứ tư, máy rất khó vào số lùi. Tuy có khuyết điểm nhưng tầu xăng có hỏa lực mạnh và vận tốc tương đối cao nên rất hữu hiệu trong các công tác pháo kích hay yểm trợ hải pháo. &lt;br /&gt;Ngoài các vấn đề an toàn nêu trên, vì các PTF này thuộc loại cũ không dùng đã lâu nên khó kiếm cơ phận. Hơn nữa, việc dùng chiến đĩnh chế tạo tại Hoa Kỳ cũng là một trở ngại vì theo qui luật, các phương tiện và võ khí xử dụng trong các cuộc hành quân biệt kích đều không được mang xuất xứ từ Hoa Kỳ để tránh các rắc rối về ngoại giao. &lt;br /&gt;Các PTF loại cũ này tham dự một số công tác đáng kể, nhưng sau này, trong những hoạt động vào ngày 30 tháng 7 và 3 tháng 8 năm 1964, cả 2 PTF-1 và PTF-2 đều bị trở ngại về máy móc nên sau đó được thay thế bằng các PTF tối tân hơn do Na Uy chế tạo. &lt;br /&gt;Tổng cộng chỉ có 2 PTF loại cũ được xử dụng trong LLHT. Một trong hai hạm trưởng của loại "tầu xăng" này kể lại như sau: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Máy chạy để ở vị thế ngừng (idle) không được đều, tiếng máy "gầm gừ" nghe rất lạ. Sự khởi động của máy rất khó khăn. Khi khởi động máy thường phát ra tiếng nổ rất lớn và thổi ra một cục lửa lớn bằng trái banh xa chừng một thước rưỡi. Chân vịt của tầu rất lớn nên quạt nước thật mạnh, mỗi khi tầu cập cầu hay rời bến đều làm cho vịnh nổi sóng. Tầu chỉ chạy tốt với tốc độ cao, chạy chậm dễ bị chết máy. Do đó cơ khí viên rất mệt, phải luôn luôn trông chừng cho máy khỏi bị tắt. Khi máy bị tắt thì khởi động rất khó, đôi khi hết cả bình gió ép! Vận tốc của tầu rất cao, khi đi (lúc tầu nặng vì còn nhiều dầu) có thể tới 35-40 gút, khi về thì 40-45 gút. Chẳng chiếc tầu nào giám cập cạnh hoặc đối diện với tụi tôi. Chúng tôi cũng không bao giờ cập cạnh nhau. Hạm trưởng các tầu khác thường gọi chúng tôi là 2 thằng thủy quái. &lt;br /&gt;Tầu được trang bị 1 đại bác 40 ly, 2 đại bác 20 ly, 2 đại liên 50 và một súng cối 81 ly gắn thêm đại liên 50. Công tác của tụi tôi là chỉ có bắn phá chứ không thả hay vớt người, thành ra rất nhàn hạ và luôn luôn thành công. Công tác của những tầu khác là thả người và vớt người nên đôi khi sai hẹn hay trở ngại vớt không được, nhiều khi đi không lại về không, có khi phải chờ dài cả cổ mới gặp được".&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;+ PTF Na Uy (Nasty)&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;Vì các khuyết điểm khó khắc phục nói trên của loại tầu xăng nên khoảng cuối năm 1965, LLHT được trang bị những khinh tốc đĩnh loại "Nasty" tối tân nhất thế giới vào thời bấy giờ do Hải Quân Na Uy và Tây Đức cùng nghiên cứu và chế tạo. &lt;br /&gt;Khinh tốc đĩnh Nasty do kiến trúc sư Jan H. Lingen của Na Uy vẽ kiểu sau khi tham khảo ý kiến với các sĩ quan thuộc hải quân Hoàng Gia Na Uy và tổng hợp những ưu điểm của các loại ngư lôi đĩnh PT của Hoa Kỳ và Fairmile "D" của Anh. Loại tầu tuần tiễu duyên hải này có thể mang theo thủy thủ đoàn 19 người. Chiếc Nasty đầu tiên được chế tạo cho hải quân Na Uy mang tên KNM TJELT (P-343). Tổng cộng, Na Uy chỉ đóng 42 chiếc Nasty, gồm 20 cho Na Uy, 6 cho Hy Lạp, 2 cho Thổ Nhĩ Kỳ và 14 cho Hoa Kỳ dùng tại Việt Nam.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Hai chiếc Nasty đầu tiên được giao cho Hải Quân Hoa Kỳ vào đầu năm 1963 tại Little Creek, Virginia, sau khi chạy thử, được đặt tên là PTF-3 và PTF-4 vào ngày 3 tháng 5 năm 1963, rồi được đưa đi huấn luyện tại San Diego. Ngày 17 tháng 9, hai chiến đĩnh được chiến hạm Point Defiance (Landing Ship Dock - LSĐ 31) chở đến Pearl Harbor, Hawaii rồi tới Subic Bay một tháng sau đó. Tại Subic, các PTF-3 và PTF-4 được biến cải để gắn thêm thùng đựng nhiên liệu để nâng cao tầm hoạt động, bằng cách gỡ bỏ pháo tháp 40 trước mũi, thay vào đó bằng ụ súng 81 ly trực xạ gắn thêm đại liên 50. Ngày 22 tháng 2 năm 1964, cả hai PTF được đưa lên chiến hạm Carter Hall để chở qua Việt Nam. Nhưng trong lúc đưa lên chiến hạm chuyên chở, PTF-3 bị sóng đập vào thành tầu lớn khiến vỏ bị bể, vì vậy được để lại Subic Bay để sửa chữa. Mãi đến cuối tháng 2/64, PTF-3 mới đến Đà Nẵng.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Trong thời gian đó, vào ngày 1 tháng 2 năm 1964, Na Uy lại giao thêm 4 chiếc Nasty mới là các PTF 5, 6, 7 và 8 tại hải cảng Bergen, Na Uy. Các tầu này được đưa lên chiến hạm Point Barrow (AKD-1) chở tới Subic Bay vào ngày 3 tháng 3. Sau khi được biến cải và tân trang, các Nasty này được đưa đến Việt Nam vài tháng sau đó. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Khinh tốc đĩnh Nasty có vỏ bằng ván ép nhiều lớp đặc biệt, trọng tải 75 tấn, dài khoảng 80 bộ, rộng 24.7 bộ, tầm nước 3.7 bộ phía trước, 6.10 bộ chỗ chân vịt sau lái, có thể mang 18 tấn hay 6,100 gallons dầu cặn, tầm hoạt động lên đến 1,000 hải lý với tốc độ tiết kiệm. Máy tầu loại Napier &amp; Deltic của Anh, 18 xy lanh, vận tốc đường trường khoảng 35 gút, vận tốc tác chiến tối đa có thể lên đến 50 gút khi tầu không mang nhiều nhiên liệu.. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về vũ khí, Nasty được trang bị 1 súng cối 81 ly trực xạ gắn thêm đại liên 50 trước mũi. Sân sau lái đặt khẩu đại bác 40 ly, hai bên hông ngang đài chỉ huy gắn đại bác 20 ly. Dụng cụ hải hành gồm la bàn điện, máy dò chiều sâu và radar loại Decca có tầm hữu dụng 50 hải lý với màn ảnh chính đặt trong trung tâm chiến báo và "repeater" trên đài chỉ huy. Radar này thường được dùng để hải hành hay hải thám, nhưng khi cần, ăng ten có thể ngóc lên 15 độ để phòng không. Tuy radar thuộc loại tối tân thời bấy giờ, nhưng các mạch điện còn dùng đèn điện tử nên khi biển động, tàu nhảy sóng và bị đập mạnh xuống mắt nước, các đèn dễ bị lỏng hoặc cháy. Máy truyền tin gồm các loại âm thoại cũng như tín hiệu.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Đặc điểm của loại Nasty là vận chuyển nhẹ nhàng, cần điều khiển máy nằm ngay trên đài chỉ huy nên hạm trưởng có thể tự mình tăng hay giảm máy dễ dàng không phải "truyền lệnh" trong lúc tác chiến hay trường hợp khẩn cấp. Đài chỉ huy lộ thiên, không có chỗ ngồi và tương đối thấp để đỡ cản gió. Khi hải hành với vận tốc cao, khoảng phân nửa thân tầu về phía trước mũi hỏng lên khỏi mặt nước, nếu gặp sóng ngược, phần lớn thân tầu bị dở lên khỏi mặt nước rồi đập xuống như phi ngựa, những đứng người trên đài chỉ huy đều phải "thủ thế" để giảm bớt sức dội và đỡ bị sóng biển tạt ướt. Tuy vậy, vỏ ván ép của Nasty có sức chịu đựng rất bền bỉ, không bị bể hay nứt. Với các đặc tính này, khinh tốc đĩnh Nasty rất được các hạm trưởng ưa chuộng và trở thành xương sống của LLHT.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;+ PTF Osprey &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Khoảng giữa năm 1968, để thay thế cho một số chiến đĩnh Nasty vào công xưởng sửa chữa đại kỳ hay bị hư hại trong lúc tác chiến, LLHT nhận thêm một số chiến đĩnh mới cũng thuộc loại PTF nhưng có tên là "Osprey" do Hoa Kỳ chế tạo. Loại khinh tốc đĩnh này do hãng đóng tàu John Trumpy and Sons of Annapolis, Maryland sản xuất, tổng cộng chỉ có 6 chiếc. &lt;br /&gt;Các chiến đĩnh Osprey được đóng mô phỏng theo loại Nasty của Na Uy, nhưng vỏ bằng nhôm thay vì bằng gỗ. Đặc biệt, loại Osprey được trang bị máy điều hòa không khí nên rất tiện nghi khi đi công tác. Nghe nói sườn và phần sau lái tầu được nhập cảng "tiền chế" từ Na Uy. Khinh tốc đĩnh Osprey tuy vỏ bằng nhôm nhưng vẫn hơi nặng hơn loại Nasty nên vận tốc kém hơn khoảng 5 gút và mức độ nhảy sóng cũng kém hơn. Vũ khí trang bị tương tự như Nasty. Tuy nhiên, vỏ nhôm của Osprey không chịu được vận tốc cao khi hoạt động trong thời tiết xấu, tầu bị sóng nâng cao và đập mạnh xuống mặt biển nên vỏ tàu bị nứt chỉ sau 6 tháng hoạt động. Vì lý do này, có 4 chiến đĩnh được đưa qua Việt Nam để thử nghiệm, nhưng sau đó lại đưa về Hoa Kỳ và trở thành các PTF 23, 24, 25 và 26 trong Hải Quân.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt; &lt;br /&gt;D. Nhân Viên &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trước khi đi sâu vào phần quan trọng và đặc biệt nhất của LLHT là lãnh vực nhân sự, cần nhắc qua về nhân viên của toán xâm nhập đường biển trước đây, có thể coi là tiền thân của LLHT và SPVZH. &lt;br /&gt;Đối với công luận Hoa Kỳ và thế giới tức là về mặt nổi, những cuộc hành quân biệt kích nhắm vào miền Bắc đều do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tự đứng ra tổ chức, do đó nhân viên tham dự đều là người Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, có một số người Đài Loan và đệ tam quốc gia do CIA tuyển mộ trong giai đoạn đầu. Cũng giống như CIA đã thuê mướn nhân viên người Đài Loan lái những máy bay C-47 thả dù Biệt Kích ngoài Bắc, CIA cũng mướn những người thuộc "quốc gia thứ ba" dự trù xử dụng trong những cuộc hành quân Biệt Hải xuất phát từ Đà Nẵng. &lt;br /&gt;Thoạt kỳ thủy khi còn xử dụng ghe Nautilus, thủy thủ đoàn đều là nhân viên dân chính Việt Nam, đa số gốc người Nghệ An, Hà Tĩnh hay gốc Nùng di cư vào miền Nam. Các ghe Nautilus được ngụy trang trông rất giống các ghe đánh cá ngoài Bắc để dễ trà trộn, bởi vậy thủy thủ đoàn cũng phải là người Việt giống như ngư phủ địa phương. Toán đổ bộ phần lớn cũng là người Việt. Tuy nhiên trong một vài công tác đổ bộ đầu tiên tại vùng Móng Cái gần biên giới Việt - Hoa, có một số người nhái Trung Hoa Quốc Gia tham dự, nhưng có lẽ họ chỉ nhân cơ hội để hoạt động trên lãnh thổ Trung Cộng.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Về sau, vì nhu cầu công tác, CIA thay thế các ghe Nautilus bằng ba duyên tốc đĩnh PCF là loại tầu mới và tối tân nên các nhân viên dân sự Việt Nam không đủ khả năng điều khiển. Vì vậy CIA đã mướn một số người thuộc đệ tam quốc gia để làm thuyền trưởng. Theo các tài liệu Hoa Kỳ và trong cuộc phỏng vấn gần đây của phóng viên Thụy Điển Sven Oste, thuyền trưởng những chiếc Swift này đều là người quốc tịch Na Uy (ông Oste đã phỏng vấn 2 trong số những người Na Uy từng làm thuyền trưởng Swift tại Việt Nam). Ngoài thuyền trưởng người Na Uy, mỗi chiếc Swift thường có thêm 3 nhân viên dân chính Việt Nam: một tài công, một xạ thủ và một thông dịch viên. Ba thuyền trưởng người Na Uy này thường được gọi đùa là "dân Viking". Họ được tuyển mộ từ Na Uy vào tháng 7/63 và đi chuyến công tác cuối cùng vào ngày 27/5/64, sau đó họ rời Việt Nam vào tháng 6/64 khi mãn giao kèo. Nhận xét chung về người Na Uy, họ là những thuyền trưởng tương đối có khả năng và chu toàn nhiệm vụ được trao phó.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Vào tháng 6/64, sau khi những người Na Uy mãn giao kèo, một số người quốc tịch Trung Hoa đuợc tuyển mộ để thay thế, nhưng khi việc huấn luyện hoàn tất thì chiến đĩnh Swift không còn được dùng trong những công tác vượt vĩ tuyến 17 Bắc nữa. &lt;br /&gt;Về toán đổ bộ, thoạt tiên có một số người thuộc quốc tịch thứ ba như Trung Hoa Quốc Gia trong vài chuyến đầu gần biên giới Hoa - Việt, nhưng sau đó, nhân viên đều là Biệt Hải, đa số thuộc Liên Đoàn Người Nhái HQVNCH.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Đối với các chiến đĩnh PTF, lúc đầu CIA mướn những người Đức để huấn luyện và dự tính dùng vào những chức vụ then chốt, còn người Nùng và Việt Nam chỉ là phụ tá. Nhưng sau đó, những người Đức bị sa thải vì thường uống rượu say sưa. Nhóm người Đức dựa vào giao kèo để phản đối, nhưng sau này CIA trả cho họ một số tiền cho êm chuyện. Nhóm người Đức này không đi một chuyến công tác nào trên PTF. Những chuyến công tác đầu tiên của PTF vào tháng 7 và 8/64 đều do các sĩ quan HQVNCH chỉ huy. Toán đổ bộ dùng PTF đại đa số là người Việt Nam với một số ít người thuộc sắc tộc thiểu số Nùng.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Kể từ khi SPVZH và LLHT được chính thức thành lập, thủy thủ đoàn của các PTF và Swift đều là những quân nhân Hải Quân VNCH tình nguyện. Vì số người tình nguyện bao giờ cũng cao hơn số được thâu nhận nên việc tuyển lựa rất kỹ càng, căn cứ vào kinh nghiệm hải hành, tinh thần phục vụ, sức khỏe và khả năng tác chiến. Việc điều tra an ninh cũng rất gay go với mức độ "mật" hay "tối mật". Khi được tuyển chọn mỗi người phải ký một giao kèo có hiệu lực trong vòng một năm. Sau đó, cứ mỗi 6 tháng khi giao kèo hết hạn, nhân viên có quyền ký thêm 6 tháng nữa hoặc thuyên chuyển về Hải Quân. Mỗi lần ký giao kèo, người tình nguyện, dù sĩ quan hay đoàn viên, đều lãnh một số tiền bằng nhau. Ngoài ra, còn có tiền phụ cấp cho mỗi chuyến công tác trên vĩ tuyến 17 và tiền phụ trội ẩm thực. Ngân khoản này đều do chính phủ Hoa Kỳ cung cấp. Tiền lương Hải Quân vẫn được lãnh hàng tháng như thường lệ.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Về việc tuyển mộ tình nguyện này, một sĩ quan từng phục vụ lâu năm trong LLHT kể lại như sau: &lt;br /&gt;"... Tưởng cuộc đời mình dính liền với Hạm Đội thì một hôm, HQ Trung Tá... xuống gặp anh em chúng tôi, ngỏ ý tuyển mộ một số sĩ quan trẻ có khả năng để phục vụ trên các khinh tốc đĩnh trong các nhiệm vụ đặc biệt. Với máu ưa mạo hiểm sẵn có cũng như niềm ngưỡng mộ đối với hình ảnh hào hùng của cố Tổng Thống Kennedy lúc ông còn là Hạm Trưởng PT 109 trong Đệ Nhị Thế Chiến, chúng tôi chỉ cần có mấy ngày để rời bỏ Hạm Đội để bước vào một thử thách mới. Khóa chúng tôi gồm có 6 người, cộng thêm 6 bạn khóa 11 trở thành nhóm Sĩ Quan trẻ đầu tiên của LLHT". &lt;br /&gt;Một khi đã ký giao kèo gia nhập LLHT, người tình nguyện không còn thuộc hệ thống chỉ huy của Hải Quân nữa, mà trở thành nhân viên của Lực Lượng Đặc Biệt nên không cần mặc quân phục Hải Quân, ngoại trừ sáng thứ hai khi làm lễ thượng kỳ hay khi có thượng cấp thăm viếng. Trong doanh trại, đa số thường bận quân phục Bộ Binh. Khi đi công tác thường chỉ mặc bộ đồ bà ba đen. Ngay cả lý lịch cũng thay đổi, mỗi người lấy một tên giả, còn thư từ thì gửi về một hộp thư chung cho toàn lực lượng.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;E. Vũ Khí Xử Dụng &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngoài những vũ khí trang bị trên chiến đĩnh, toán đổ bộ lúc đầu còn xử dụng các hỏa tiễn thới chỉnh để bắn phá các mục tiêu, nhưng vì hỏa tiễn không được chính xác nên sau này họ xử dụng súng 57 ly không giật để tăng cường hỏa lực. Những ổ súng không giật di động này có thể thiết trí ở bât cứ nơi nào trên chiến đĩnh vì không cần dùng chân súng. Các ổ súng không giật thường được đặt ở sân trước ngay dưới chân khẩn súng cối 81 ly trên chiến đĩnh mỗi khi bắn phá mục tiêu trên bờ. Toán đổ bộ cũng thực tập bắn súng 57 ly bằng cách mang trên vai để có thể xử dụng vũ khí này trên xuồng cao su. Ngoài súng 57 ly, còn có các loại 90 ly hay 106 ly nhưng không được xử dụng thường xuyên. Nhiều loại mìn nổ chậm cũng được Biệt Hải dùng trong công tác phá hoại. Về vũ khí cá nhân, các nhân viên đổ bộ dùng loại súng AK của khối CS hay tiểu liên (K-gun) do Thụy Điển chế tạo.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;F. Tin Tức Tình Báo Và Không Ảnh &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trước khi lên đường hành quân, các Hạm Trưởng và trưởng toán đổ bộ thường được thuyết trình về tình hình địch cũng như xem không ảnh mới nhất của vùng mục tiêu. Tin tức tình báo thường là cung từ của các tù binh hay dân đánh cá bị tại địa phương bị bắt về để khai thác. Các không ảnh này đa số do phi cơ "tối mật" U-2 chụp trên cao độ ngoài tầm hỏa tiễn phòng không cũng như phi cơ của BV. Các phi cơ U-2 thường xuất phát từ phi trường Biên Hòa, đôi khi từ căn cứ Clark Air Base bên Phi Luật Tân. &lt;br /&gt;Tại phi trường Biên Hòa thường có hai phi cơ U-2 túc trực. Không ảnh của phi cơ U-2 là nguồn tình báo chính cho các cuộc hành quân OPLAN 34A. Thông thường, vào ngày có công tác, một phi cơ U-2 bay từ sáng sớm để chụp hình mục tiêu. Đến trưa, không ảnh đã có trong tay MACSOG tại Sài Gòn. Đôi khi không ảnh cũng được chụp bằng các phi cơ không người lái (drone) ở cao độ thấp hơn hoặc bằng cách chụp hình trên màn ảnh radar (radarscope photography) trên các phi cơ bay đêm. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;G. Tinh Thần Chiến Đấu &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Dĩ nhiên trong mỗi lần vượt vĩ tuyến 17 thi hành công tác, bao giờ cũng có những nguy hiểm chờ sẵn, nhưng thật ra những lo âu, hồi hộp không phải vì địch quân mà do cảm giác thiếu an toàn khi hoạt động trong vùng địch kiểm soát. Trong những chuyến công tác đầu tiên, tuy vẫn hải hành ngoài biển, nhưng một khi vượt qua lằn ranh tưởng tượng là vĩ tuyến 17 sang hải phận địch, ai cũng cảm thấy tinh thần căng thẳng. Ngược lại khi trở về vùng biển nhà, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm. &lt;br /&gt;Lâu dần, đầu óc cũng quen đi, hơn nữa so với các tầu tuần duyên Bắc Việt, các chiến đĩnh LLHT có hỏa lực mạnh hơn, vận tốc lại nhanh hơn nên lúc nào cũng chiếm được thế thượng phong. Vì vậy, những cảm giác lo âu ban đầu không còn nữa nhưng lúc nào cũng cần đề phòng cẩn mật và tập trung tâm trí chỉ vào việc hoàn thành công tác. Đã từng phục vụ tại các giang đoàn ở miền Nam, chúng tôi nhận thấy rằng những chuyến công tác vượt tuyến còn ít nguy hiểm hơn nhiều. Các giang đĩnh hoạt động trong sông lạch chật hẹp là mục tiêu bị động tốt cho địch quân ẩn núp hai bên bờ nhắm bắn bất cứ lúc nào; ngược lại, các chiến đĩnh tối tân của LLHT ngoài biển cả luôn luôn nắm vai trò chủ động.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Mỗi chuyến công tác vượt tuyến là một cuộc phiêu lưu mạo hiểm rất hào hứng và cũng là một thử thách. Ngoài ra, các chuyến công tác tương đối ngắn, ít khi kéo dài quá 24 tiếng đồng hồ, không mấy nguy hiểm lại được đãi ngộ xứng đáng nên tinh thần của nhân viên LLHT rất cao. Bằng cớ là có rất nhiều người thuộc thủy thủ đoàn chưa tới phiên, nhưng vẫn tình nguyện đi công tác thay thế cho những người vắng mặt ở thủy thủ đoàn khác cho đủ cấp số. Lắm người tình nguyện này đi công tác nhiều gấp đôi, gấp ba so với các bạn đồng đội thuộc thủy thủ đoàn chính của mình. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Lực Lượng Biệt Hải &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngay từ tháng 11 năm 1962, một căn cứ đã được thiết lập tại bãi biển Mỹ Khê do CIA điều khiển để các ngưới nhái Hoa Kỳ (SEAL - Sea Air Land) huấn luyện các toán đổ bộ. Tuy căn cứ này do CIA chịu trách nhiệm cho tới năm 1964, nhưng việc huấn luyện hoàn toàn do SEAL đảm trách. &lt;br /&gt;Bãi biển Mỹ Khê nằm về hướng đông của bán đảo Tiên Sha, từ chân núi Khỉ (hay núi Sơn Chà) chạy dài về hướng Nam tới Ngũ Hành Sơn (Marble Mountain). Bán đảo Tiên Sha thuộc khu phía đông của thành phố Đà Nẵng. Tất cả các căn cứ của toán Biệt Hải đều nằm dọc theo bãi biển Mỹ Khê. Các toán Biệt Hải sống và huấn luyện trong những trại riêng biệt, tương đối nhỏ chỉ đủ cho vài ba chục người. Có trại dành riêng cho toán Biệt Hải gốc Bộ Binh (Romulus?), có trại dành cho Biệt Hải gốc người nhái Hải Quân (Vega), có trại dành riêng cho toán xử dụng chất nổ dưới nước. Ngoài ra, còn có trại riêng cho những người Nùng chuyên việc canh phòng các doanh trại. &lt;br /&gt;Vào khoảng năm 1964, toán người nhái Hải Quân Hoa Kỳ đảm trách việc huấn luyện các toán Biệt Hải, dưới quyền chỉ huy của Đại Úy Cathal L. Flynn. Các toán Biệt Hải được huấn luyện về kỹ thuật chèo xuồng cao su, đổ bộ, bơi ngầm dưới biển, xử dụng chất nổ v.v... Về vũ khí, đầu tiên họ được huấn luyện cách xử dụng hỏa tiễn loại 3.5 inch thời chỉnh (time- delay) do CIA cung cấp. Trên nguyên tắc, một toán có thể đổ bộ gần mục tiêu rồi đặt giàn phóng hỏa tiễn, điều chỉnh thời gian khai hỏa rồi rút về căn cứ trước khi hỏa tiễn khai hỏa. Tuy nhiên, loại hỏa tiễn này không được hiệu quả vì kém chính xác, hệ thống thời chỉnh hay bị sai và nhất là nguy hiểm vì hay phát nổ bất tử. Những hỏa tiễn này đã được dùng vài lần trong các cuộc đổ bộ ngoài Bắc nhưng sau bị loại bỏ vì không có hiệu quả và sau này được thay thế bằng súng 57 ly không giật. Đây là loại súng đại bác hạng nhẹ với hơi nổ được đẩy ra phía sau thay vì theo nòng súng tống ra phía trước nên "không giật" do đó không cần chân hay đế súng để triệt tiêu sức giật. &lt;br /&gt;Vào tháng 3 năm 1964, Hải Quân Đại Úy Trịnh Hòa Hiệp thuộc Liên Đoàn Người Nhái HQVNCH được thuyên chuyển ra làm Chỉ Huy Trưởng toán LĐNN tại Mỹ Khê. Đây là toán hoạt động hữu hiệu và đạt được nhiều thành quả nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VIII. Một Số Hoạt Động &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong khoảng thời gian trên dưới 10 năm hoạt động, các ghe Nautilus và chiến đĩnh LLHT cũng như toán Biệt Hải đã thi hành hàng ngàn chuyến công tác đủ loại. Sau đây là những công tác đáng nhớ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Công Tác Của Ghe Nautilus &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Tuy các ghe Nautilus hoạt động bắt đầu hoạt động từ năm 1956, nhưng những chuyến công tác đầu tiên chỉ dể tiếp tế cho những toán nằm vùng ngoài Bắc Việt và rất bất thường, có khi mỗi năm chỉ xảy ra một, vài lần. Sau này, vào khoảng các năm 1962, 1963, những chuyến công tác Nautilus trở nên thường xuyên hơn và có mục đích tích cực hơn. Sau đây là một số hoạt độngtiêu biểu của Toán Công Tác Đường Biển trong thời gian này:&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Chuyến Công Tác Nautilus I ngày 12/1/62 &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngày 12 tháng 2 năm 1962, vào khoảng 5 giờ sáng, ghe Nautilus I rời Đà Nẵng lên đường ra miền Bắc để thực hiện công tác liên lạc và tiếp tế cho các công tác viên nằm vùng. Sau hai ngày hải hành trong vịnh Bắc Việt không có gì trở ngại, Nautilus I tới vùng điểm hẹn Hòn Gai. Trước đó ít lâu, điệp viên Ares đã gửi điện văn yêu cầu tiếp tế nhiều nhu yếu phẩm, trong đó có cả máy truyền tin. Ngoại trừ thuyền trưởng, đa số thủy thủ đoàn của Nautilus 1 còn rất trẻ đều không biết rõ mục tiêu của chuyến công tác. Trước đó không lâu, dưới sự điều động của cơ quan xâm nhập đường biển, Nautilus I đã đổ một người tên Quang lên vùng biển Hà Tĩnh gần Đèo Ngang an toàn. Thủy thủ đoàn cũng đã nhiều lần lên bờ sống lẫn lộn với dân đánh cá địa phương để thu thập tin tức. &lt;br /&gt;Khi tới Hòn Gai, Nautilus I neo ở gần một hòn đảo nhỏ và giả dạng đang đánh cá để chờ trời tối. Đến tối, Nautilus theo mật hiệu của Ares vào đến điểm trong bờ hẹn thì bị phục kích. Chiếc ghe và toàn thể thủy thủ đoàn bị rơi vào tay địch. Điệp viên Ares cũng không thấy tăm tích! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Công Tác Nautilus II Ngày 28-6-62 &lt;br /&gt;Ngày 28 tháng 6 năm 1962, thủy thủ đoàn Nautilus II rời Đà Nẵng lên đường vượt vĩ tuyến 17 trong một công tác đặc biệt: đó là thả bốn người nhái tại cửa sông Gianh để đặt mìn phá hoại những chiếc tầu Swatow của Việt Cộng tại căn cứ Hải Quân Quảng Khê gần đó. Bốn người này là các anh Lê Văn Kinh, Nguyễn Hữu Thảo, Nguyễn Văn Tâm và Lê Văn Chuyên. Họ thuộc toán người nhái đầu tiên của Hải Quân VNCH gồm 18 người được gửi đi thụ huấn tại Đài Loan vào tháng 8 năm 1960. &lt;br /&gt;Tới địa điểm hoạt động, những người nhái thuộc toán phá hoại xuống nước và chuẩn bị đặt mìn. Nhưng rủi ro không hiểu vì lý do gì, một trái mìn bị nổ trước khi tới mục tiêu, khiến một người nhái bị tử thương tại chỗ. Vì vậy, lực lương duyên phòng VC báo động và đuổi bắt. Chiếc thuyền Nautilus xả hết tốc lực chạy về vĩ tuyến 17 nhưng bị các tầu tuần VC có tốc lực nhanh hơn đuổi kịp và đánh chìm gần vĩ tuyến 17. Nhân viên CIA ở Đà Nẵng nghe được liên lạc âm thoại của các tầu CS nhưng không làm gì được để tiếp cứu Nautilus II.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Kết quả có hai người nhái bị bắt là anh trưởng toán Lê Văn Kinh và Nguyễn Văn Tâm. Trongsố thủy thủ đoàn Nautilus II, chỉ có một người thoát nạn nhờ núp dưới lá buồm của chiếc thuyền bị chìm, và được một lực lượng xuất phát từ Đà Nẵng cứu thoát trên biển. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Công Tác Vào Tháng 7 năm 1962 &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong chuyến công tác này, một điệp viên tên Nguyễn Châu Thanh đổ bộ thành công tại vùng Hà Tĩnh. Theo kế hoạch, thủy thủ đoàn Nautilus III đảm nhiệm công tác này, nhưng đến phút chót, công tác được giao cho một chiếc thuyền khác. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;- Công Tác Nautilus VII&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;Vào tháng 7 năm 1963, toán Dragon gồm có 6 người Nùng do Mộc A Tài chỉ huy đổ bộ lên vùng Móng Cái, sát biên giới Việt Hoa với nhiệm vụ phá hủy đài radar duyên hải tại địa phương. Ngoài ra, toán Dragon cũng được lệnh hoạt động vô hạn định trong khu vực quen thuộc nhiều người Nùng này và liên lạc với những người Nùng khác là lính cũ của Đại Tá Woong A Sáng sư đoàn 22 BB để lại nằm vùng tại miền Bắc trong cuộc di cư vào Nam năm 1954. Sở Địa Hình đã liên lạc với Đại Tá Sáng để biết về tung tích của những ngưới lính cũ nằm cùng này. Nếu gặp được nắm được, toán Dragon sẽ dùng họ để chỉ điểm và cộng tác.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Chiếc ghe Nautilus 7 có nhiệm vụ chở Team Dragon tới điểm đổ bộ. Thủy Thủ Đoàn Nautilus cũng được dặn dò phải cẩn thận đi theo một hải trình đã vạch sẵn để tránh các đài radar ở đảo Hải Nam có thể phát hiện họ khi xâm nhập hải phận miền Bắc. &lt;br /&gt;Chẳng may, khi Nautilus 7 tới điểm đổ bộ thì bị phát hiện, lúc đó toán đổ bộ đã lên bờ. Nautilus 7 sau này về được đến Đà Nẵng, nhưng một số thủy thủ và toán đổ bộ bị bắt. Một trong số người bị bắt cho biết như sau: &lt;br /&gt;"Những chuyến xâm nhập bằng đường biển đều rất thành công. Bằng cớ là tôi đã hoàn tất 11 chuyến công tác trước khi bị bắt. Công tác của chúng tôi chia làm 3 loại: thám sát để thu thập tin tức tình báo, đổ bộ biệt kích và phá hoại. Chúng tôi có cả thảy 7 chiếc ghe, thủy thủ đoàn luôn luôn được thay đổi. Thí dụ như tôi lúc đầu thuộc toán Nautilus 2, sau đó qua Nautilus 4 và cuối cùng tới Nautilus 7 khi bị bắt. Nautilus 4 đã xâm nhập Hải Phòng 2 lần nhưng đều trở về an toàn. Chúng tôi đã nhiều lần hoàn tất công tác tại các vùng thật xa như Móng Cái gần biên giới Hoa-Việt và vùng Đèo Ngang thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Theo tôi biết, Nautilus II là chiếc ghe độc nhất bị mất trong chuyến công tác chở người nhái đặt mìn tại Quảng Khê vào tháng 6/62".&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Công Tác Của PTF&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;Không có tài liệu nào cho biết về hoạt động của các tầu Swift và PTF trước năm 64 khi còn do CIA điều động với những ngưới ngoại quốc như Đức, Na Uy hay Trung Hoa làm thuyền trưởng, nhưng từ năm 64 là lúc SPVZH được thành lập và các chiến đĩnh do HQVNCH điều động thì có rất nhiều công tác thành công. Cũng cần nói thêm, những công tác của MAGSOC đều có tính cách chiến lược hơn là chiến thuật, vì vậy không hẳn đặt nặng vào vấn đề phá hoại mục tiêu hay giết được nhiều địch mà nhằm vào việc thâu thập tin tức tình báo cũng như khuấy rối hậu tuyến địch hoặc chiến tranh tâm lý. &lt;br /&gt;Trong suốt thời gian hoạt động khoảng 8 năm, các PTF thuộc LLHT đã thực hiện trên dưới 1,000 chuyến công tác xâm nhập hải phận Bắc Việt. Khoảng từ năm 1965 đến năm 1970 có nhiều công tác nhất. Đặc biệt trong thời điểm phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc Bắc Việt, có những thủy thủ đoàn đi 5, 6 chuyến công tác mỗi tháng. &lt;br /&gt;LLHT có tới 12 thủy thủ đoàn, gọi là Crew 1 đến Crew 12 (C1 - C12). Cấp số mỗi crew là 19 người. Về PTF cũng có 12 chiếc đặt tên từ Boat 1 đến Boat 12 (B1 - B12). Trên nguyên tắc, mỗi một thủy thủ đoàn chịu trách nhiệm một PTF, thí dụ C1 được giao cho B1, C2 lãnh B2 v.v... Vì vậy, thủy thủ đoàn C1 cũng thường được gọi là B1 v.v... PTF thuộc LLHT không bao giờ hoạt động đơn độc phía trên vĩ tuyến 17 Bắc. Mỗi chuyến công tác gồm từ 2 tới 4 PTF, tùy theo mức độ quan trọng hoặc vùng hoạt động xa hay gần. Trung bình, mỗi chuyến công tác thường có 3 PTF. Tuy mỗi thủy thủ đoàn được giao cho một PTF, nhưng khi đi công tác, bao giờ những chiếc tầu tốt nhất cũng được ưu tiên lựa chọn, vì vậy, thủy thủ đoàn này lấy chiếc tầu kia đi công tác là chuyện rất thông thường. &lt;br /&gt;Sau đây chỉ là một số hoạt động tiêu biểu trong tháng 6 năm 1964. &lt;br /&gt;- Ngày 12, hai toán chiến đĩnh đổ toán đổ bộ lên hai mục tiêu khác nhau tại vùng biển Bắc Việt. Một toán tại vùng Cửa Ron thuộc tỉnh Hà Tĩnh và một toán xa hơn về phía Bắc thuộc tỉnh Thanh Hóa. Toán đổ bộ tại cửa Ron mang theo súng 57 ly không giật đã bắn tan một đồn binh của Bắc Việt tại Hải Khẩu. Toán đổ bộ tại Thanh Hóa đặt mìn phá nổ cầu sông Hàng. Tất cả toán đổ bộ gồm 26 người đều trở về chiến đĩnh vô sự. &lt;br /&gt;- Trong đêm 26 rạng ngày 27, một toán chuyên viên đặt chất nổ gồm 7 người hợp với toán yểm trợ 24 người đã phá nổ một cây cầu trên Quốc Lộ 1 gần Thanh Hóa, hạ sát 2 lính gác cầu và 4 lính Bắc Việt mà không bị thiệt hại. &lt;br /&gt;- Đêm 30 rạng 1 tháng 7, một toán đổ bộ gồm khoảng 30 người đã dùng súng 57 ly không giật bắn sập nhà máy nước tại cửa sông Kiên gần Đồng Hới. Vào khoảng quá nửa đêm, hai PTF 5 và 6 đổ bộ người bằng bè cao su. Toán đổ bộ hoàn tất công tác nhưng đụng độ nặng với lính Bắc Việt. Hai PTF tiến lại gần bờ bắn yểm trợ bằng súng 40 và 20 ly để đưa toán đổ bộ về tầu. Kết quả toán đổ bộ bị thiệt mất 2 người nhưng cũng bắt sống được 2 địch quân. Sau này, Bắc Việt cho biết bắt sống được một Biệt Kích Quân và anh này cho biết thuộc toán đổ bộ đã đánh sập cầu sông Hàng tại Thanh Hóa trước đây. Anh cũng cho biết những Biệt Kích Quân đều được huấn luyện tinh thục và rất quen thuộc với kỹ thuật đổ bộ, có thể đánh phá các mục tiêu trên bộ rồi trở về chiến đĩnh không mấy khó khăn. Anh cũng cho biết các Biệt Kích Quân thích đổ bộ bằng đường biển hơn lối thả dù bằng máy bay vì an toàn và được yểm trợ hữu hiệu hơn. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3. Công Tác Tâm Lý Chiến &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Ngoài những công tác đổ toán với mục tiêu phá hoại hay bắt những cán bộ hay lính Bắc Việt để khai thác tin tức tình báo. Các PTF còn thực hiện nhiều công tác khác ngoài biển, không cần dùng tới toán đổ bộ như: xét những ghe đánh cá để thu thập tài liệu hoặc bắt một vài dân đánh cá để khai thác tin tức, bắn phá các mục tiêu trên bộ, bắn truyền đơn vào vùng duyên hải đông dân cư v.v... &lt;br /&gt;Các công tác bắn truyền đơn thường được thực hiện tại vùng bờ biển đông dân cư, khoảng từ vĩ tuyến 18 Bắc trở xuống. Các truyền đơn đã được nạp sẵn vào đầu đạn, 81 ly. Khi tới vùng hoạt động, các PTF chạy rất gần bờ, khoảng từ 1,500 thuớc tớ 2,000 ngàn thước rồi bắn những đầu đạn có truyền đơn vào các xóm làng ven biển. Đầu đạn sẽ nổ trên không như đạn trái sáng và tuyền đơn tung ra như được rải từ trên không. Đôi khi, các PTF cũng thả các máy thâu thanh được bọc kỹ trong túi ny-lông không thấm nước tại các làng dọc theo duyên hải để dân chúng có thể nghe các đài phát thanh miền Nam như Tiếng Nói Tự Do, Mẹ Việt Nam, Gươm Thiêng Ái Quốc v.v... &lt;br /&gt;Công tác bắt dân đánh cá để thực hiện mục tiêu tuyên truyền được thực hiện lần đầu vào ngày 27 tháng 5 năm 1964. Trong chuyến công tác này gồm có một PTF và một Swift bắt một ghe đánh cá tại vùng biển Đồng Hới. Sáu ngư phủ cùng với chiếc ghe được đưa về Cù Lao Chàm gần Đà Nẵng. Tại đây, các ngư phủ được đối xử và cho ăn uống tử tế trong suốt thời gian lưu trú để tuyên truyền. Tới ngày 2 tháng 6, các ngư phủ này được trả về vùng biển trước đây đã bị bắt cùng với thuyền dánh cá của họ và một số quà như máy thu thanh mà người miền Bắc gọi là "đài", vải vóc, thực phẩm, đồ dùng bằng nhựa v.v... &lt;br /&gt;Ngày 7 tháng 7, các chiến đĩnh bắt thêm 3 ghe và ngày 20 tháng 7 thêm 2 ghe khác. Sau này, các Swift không còn đảm nhận công tác phía Bắc của vĩ tuyến 17 nên việc xét và bắt các ngư phủ đều do các PTF thực hiện. Có lẽ vì các PTF có vận tốc nhanh và cũng cao hơn Swift nên việc kéo ghe đánh cá không có người lái về Cù Lao Chàm thường khiến ghe bị chìm nên sau này chỉ chỉ bắt người mà không kéo ghe. Khi thả các ngư phủ, các chiến đĩnh mang theo các thuyền thúng và thả họ tại vùng đã bị bắt trước đây. &lt;br /&gt;Sau này, có tài liệu của Hoa Kỳ nói rằng sau khi bắt ngư phủ, các PTF không kéo theo ghe đánh cá như trước mà để lại đặt chất nổ rồi thả trôi để làm bẫy. Điều này hoàn toàn vô căn cứ. Việc không kéo theo ghe đánh cá thật ra vì lý do thực tế nhiều hơn vì lý do phá hoại. Thông thường ngư dân ngoài Bắc sống dưới chế độ Cộng Sản đều rất nghèo đói, nên ghe đánh cá của họ rất mong manh và sơ sài, chỉ có thể hành nghề tương đối gần bờ trong nhưng ngày biển êm. Vì vậy, ngay cả với Swift là chiến đĩnh loại nhỏ cũng phải kéo rất cẩn thận với vận tóc thật chậm, khoảng dưới 10 hải lý một giờ để tránh ghe bị chìm hoặc bể. Đó là vùng gần vĩ tuyến 17 như Đồng Hới, Quảng Khê dân còn có ghe tuy sơ sài để đánh cá. Xa hơn về phía Bắc như tại vùng Thanh Hóa, Nghệ An, các ngư phủ nghèo đến độ không có còn có ghe mà họ phải dùng "mảng" là một bè gồm nhiều thân cây tre cột lại với nhau bằng "lạt" tức là giây làm bằng tre chẻ nhỏ. Dĩ nhiên, những "mảng" này không có máy mà chạy bằng buồm và chèo. Buồm cũng không làm bằng vải mà làm bằng lá gồi hoặc cói đan lại như chiếc chiếu. Cột buồm cũng làm bằng thân một cây tre lớn. Khi hành nghề trên các "mảng" này, dân đánh cá lúc nào cũng bị ướt vì mảng tuy nổi nhưng luôn luôn sâm sấp nước ngập tới cổ chân! Vì vậy, dù có muốn kéo những "mảng" hay "bè" tre này cũng không được. Về y phục, những người chủ ghe khá lắm mới có được quần áo vá chằng chịt không biết mấy lớp. Đa số người trên mảng chỉ trùm một chiếc "áo tơi" cũng làm làm bằng lá gồi cột lại. Dụng cụ đánh cá của họ là những sợi dây câu cuốn vào ống tre chứ không có lưới. &lt;br /&gt;Chúng tôi còn nhớ một lần xét ghe ngoài khơi cửa Lạch Trường tức cửa bể Sầm Sơn gần Thanh Hóa. Hôm đó, vào khoảng tháng 12, trời mưa phùn với gió Bấc thổi khá lạnh. Khi chiến đĩnh lại gần thấy chiếc mảng trên có 5, 6 ngư phủ đầu đội nón lá, tay kéo chặt chiếc áo tơi lá gồi, ngồi xổm co ro vào một góc như để tránh gió và che chở lẫn cho nhau. Thấy có vẻ khả nghi, nhân viên xét ghe trên chiến đĩnh dùng loa phóng thanh cầm tay (megaphone) ra lệnh cho những người dưới mảng "đứng dậy, dơ tay lên". Các ngư phủ trên mảng nhìn nhau có vẻ bối rối, nhưng khi thấy toán xét ghe trên tầu chĩa súng xuống, họ phải đứng lên và bỏ tay đang giữ chiếc áo tơi để đưa lên khỏi đầu. Lập tức, những chiếc áo tơi lá không còn bị cầm giữ nữa tuột khỏi thân người, rơi xuống mảng. Tất cả mọi người trên chiến đĩnh đều vô cùng ngạc nhiên khi thấy các ngư phủ đều trần truồng, bên trong không mặc quần áo gì cả! Khi đưa họ lên tầu, cho ăn uống no nê, hỏi ra mới biết theo "chỉ số", mỗi người dân chỉ được mua 2 thước vải quốc doanh một năm, mua vải chợ đen thì không có tiền. Vì vậy khi đi biển, người nào có áo vá chằng vá đụp đã là loại sang, còn đa số chỉ đánh chiếc áo tơi lá gồi để che mưa nắng, còn quần áo để đành cho các dịp trọng đại khác. &lt;br /&gt;Về công tác tâm lý chiến, một hạm trưởng thâm niên thuộc LLHT kể lại như sau: &lt;br /&gt;" Trong năm 1967, chúng tôi thi hành một kế hoạch tâm lý chiến đặc biệt. Trong gần ba tháng, chúng tôi bắt hơn 300 ngư dân từ Đồng Hới đến Thanh Hóa, cứ mỗi xã bắt hai người. Sau đó đưa họ về Cù lao Chàm, nuôi họ mỗi ngày nửa con gà. Sau ba tháng, anh nào anh nấy mập ú, da dẻ hồng hào. Chúng tôi thả họ về nguyên quán sau đó để xem phản ứng của dân chúng cũng như chính quyền miền Bắc như thế nào. Quả như chúng tôi nghĩ, trong sáu tháng sau, chúng tôi cố gắng bắt lại vài ngư phủ này để khai thác, nhưng tìm mãi cũng chẳng được người nào. Đến gần chín tháng mới bắt được một người, anh ta than thở: "Mấy ông hại tui. Khi mấy ông thả tui về, chính quyền địa phương thấy tui mập quá, đem nhốt cải tạo tư tưởng, đến bây giờ mới cho về."&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;IX. PTF và Biến Cố Vịnh Bắc Việt&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;Trong thời gian Khu Trục Hạm Mađox của Hải quân Hoa Kỳ bị tấn công tại vịnh Bắc Việt, công tác của chiến hạm có lắm trùng hợp với những hoạt động của các PTF thuộc LLHT. Vì có nhiều dư luận cho rằng các PTF và chiến hạm Mađox đã phối hợp để khiêu khích Bắc Việt phải nhảy vào vòng hải chiến để Hoa Kỳ có cớ oanh tạc miền Bắc, chúng tôi tóm tắt một số diễn tiến liên hệ để độc giả có thể tự tìm câu trả lời.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1. Hoạt Động Của Khu Trục hạm Mađox &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Sáng sớm ngày 31 tháng 7 năm 1964, Khu Trục Hạm Mađox (Đ 731) của Hải Quân Hoa Kỳ tới bờ biển Việt Nam, vùng ngang vĩ tuyến 17 để bắt đầu cuộc tuần tiễu dọc bờ biển Bắc Việt đặt tên làDesoto. &lt;br /&gt;Tới trưa ngày 2/8, khi chiến hạm đang ở vị trí cách bờ chừng 18 hải lý và cách Hòn Mê chừng 10 hải lý thì bị 3 ngư lôi đĩnh Bắc Việt mang số T-333, T-336 và T-339 tấn công bằng ngư lôi. Kết quả cả 3 tầu Bắc Việt bị bắn hư hại nặng, Khu Trục Hạm Mađox không bị thiệt hại. &lt;br /&gt;Sang ngày 3/8, Khu Trục Hạm Mađox được lệnh của Đô Đốc Johnson, Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Đội tiếp tục cuộc tuần tiểu Desoto, nhưng lần này có thêm Khu Trục Hạm Turner Joy (Đ 971) tăng cường. Theo phúc trình của Hải Quân Hoa Kỳ, khoảng 2134G ngày 4/8, hai chiến hạm báo lại bị tầu Bắc Việt bị tấn công và bắt đầu khai hỏa vào lúc 2139G, lúc đó mục tiêu cách khoảng 8,000 yards. Sau này, có nhiều người cho rằng cuộc đụng độ lần thứ hai này không xảy ra.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Hoạt động của PTF trong thời gian có cuộc tuần tiễu Desoto&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;- Ngày 22/7/64, bốn chiến đĩnh gồm các PTF-3, PTF-4, PTF-5, PTF-6 chuẩn bị công tác đổ biệt kích đánh phá các trạm gác quân sự tại Hòn Mật và đài radar duyên phòng Vinh Sơn (gần hải cảng Bến Thủy, thành phố Vinh), nhưng công tác phá hoại bị thay đổi vào giờ chót vì không ảnh do phi cơ U-2 chụp vào lúc sáng sớm phát hiện 2 tầu Swatow của địch trong vùng Hòn Niếu và 3 chiếc khác tại vùng Hòn Mê nằm về phía Bắc của mục tiêu chừng 50 hải lý. Tuy nhiên, các PTF vẫn lên đường với nhiệm vụ tuần thám vùng duyên hải và chuẩn bị hải chiến với các tầu Bắc Việt thay vì đổ biệt kích phá hoại. Nhưng không rõ vì tin tức tình báo không chính xác hay tầu địch lẩn tránh, không thấy tầu địch nghênh chiến. &lt;br /&gt;- Ngày 27/7/64, hai PTF đang yểm trợ cho hai tầu Swift xét ghe tại một địa điểm ngoài khơi Vinh Sơn thì tầu Swatow địch xuất hiện, có lẽ xuất phát từ căn cứ Quảng Khê ở cửa sông Giang. Đã được chỉ thị đề phòng tầu địch tấn công bất ngờ từ trước, các PTF hộ tống các tầu Swift tiến xa ra ngoài khơi rồi chuẩn bị nghênh chiến nhưng các Swatow Bắc Việt không giám đuổi theo. Vì mục đích chính của chuyến công tác là xét ghe chứ không phải chận đánh tầu địch nên các PTF cũng trở về căn cứ mà không tham chiến. &lt;br /&gt;- Ngày 30/7/64, một toán 4 chiến đĩnh gồm các PTF-2, PTF-3, PTF-5 và PTF-6 lên đường công tác. Mục tiêu là đổ toán đổ bộ lên các đảo Hòn Niếu và Hòn Mê để đặt chất nổ phá hoại các vị trí quân sự. Hòn Mê nằm cách bờ chừng 12 cây số, vào khoảng vĩ độ 19 độ Bắc, ngoài khơi của Lạch Tray (Sầm Sơn). Hòn Niếu nằm xa hơn về phía Nam, ngoài khơi hải cảng Bến Thủy thuộc thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An) cách bờ chỉ chừng 4 cây số. &lt;br /&gt;Đây là một chuyến công tác rất gay go, nhiều nguy hiểm vì phải đổ bộ biệt kích sâu trong lòng địch với tin tức tình báo và không ảnh cho thấy tầu địch đang phục sẵn tại vùng mục tiêu. Do đó, thủy thủ đoàn các PTF tham dự chuyến công tác đều được đặc biệt tuyển chọn trong số những toán nhiều kinh nghiệm cũng như thiện chiến nhất. &lt;br /&gt;Vào khoảng gần nửa đêm 30/7, lúc 2315H, các PTF đến điểm tập trung cuối cùng phía Đông Nam của Hòn Mê, tọa độ 19 độ Bắc, 106.16 độ Đông. Tại đây, toán chiến đĩnh chia làm 2 phân đội: phân đội Bắc gồm các PTF-3 và PTF-6 hướng về mục tiêu Hòn Mê và phân đội Nam gồm các PTF-5 và PTF-2 di chuyển tới mục tiêu Hòn Niếu. &lt;br /&gt;Phân đội Bắc vùng mục tiêu là một địa điểm phía nam Hòn Mê vào hồi 0021H ngày 31/7. Hòn Mê tuy gọi là một hải đảo nhưng thật ra là một hòn núi lớn giữa biển với cây cối dầy đặc nên rất khó quan sát những hoạt động trên đảo, nhất là vào ban đêm. Trên đỉnh Hòn Mê với cao độ chừng 500 thước trên mặt biển, Bắc Việt đặt một giàn hải pháo duyên phòng có thể bắn tới các mục tiêu trên biển cách xa chừng 15 hải lý. &lt;br /&gt;Hai chiến đĩnh thận trọng tiến vào mục tiêu theo đúng đội hình đổ bộ, một chiếc canh phòng phía ngoài, chiếc kia chở toán tới điểm đổ bộ cách bờ chừng 2,000 thước. Toán đổ bộ dự trù sẽ đặt chất nổ phá hoại một tháp canh và các cơ sở quân sự trên đảo. Trong lúc toán đổ bộ đang chuẩn bị thả xuồng cao su, thủy thủ đoàn dùng ống nhòm quan sát thấy một chiếc Swatow của địch đang nằm sát trong bờ. Cùng lúc đó, tầu địch khai hỏa trước bằng đại bác 37 ly và thượng liên. Tuy bị tấn công trước nhưng các PTF phản pháo hữu hiệu làm im tiếng súng địch chỉ sau vài phút giao tranh. Sự hiện diện của tầu địch tại Hòn Mê không làm thủy thủ đoàn các PTF ngạc nhiên vì điều này chỉ xác nhận những tin tức tình báo từ trước.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Vì đã bị lộ nên cuộc đổ bộ bắt buộc phải hủy bỏ, các PTF chuyển sang kế hoạch dự phòng là bắn phá các mục tiêu trên bờ bằng hải pháo cơ hữu 40 ly, 20 ly, 81 ly trực xạ và súng 57 ly không giật của toán đổ bộ tăng cường. Đây là cuộc bắn phá các mục tiêu trên bộ lần đầu tiên của các PTF trong khuôn khổ OPLAN 34A. Chỉ trong vòng khoảng 20 phút, hỏa lực dữ dội của hai PTF-3 và PTF-6 đã hoàn toàn phá hủy các mục tiêu chỉ định cùng nhiều ổ súng đại liên. Hoàn tất công tác, hai chiến đĩnh rời vùng vào hồi 0048H. Sau này, theo tin tình báo của Hoa Kỳ, một tầu Swatow mang số T-142 đến tăng cường toán phòng thủ Hòn Mê cố gắng theo dõi hoạt động của toán PTF nhưng không giám tham chiến. Tài liệu kiểm thính của Hoa Kỳ ghi nhận thuyền trưởng chiếc T-142 báo cáo về bộ chỉ huy viện cớ vận tốc của các PTF quá cao nên theo không kịp nên phải bỏ cuộc. Có lẽ vì chiếc Swatow này ẩn trốn trong bờ nên các PTF không phát hiện được. &lt;br /&gt;Cùng lúc với các hoạt động diễn ra sôi nổi tại Hòn Mê, hồi 0037H, các PTF thuộc phân đội Nam cũng tiến vào mục tiêu là một đài truyền tin trên đảo Hòn Niếu, chỉ cách mục tiêu chừng 800 thước. Nhưng có lẽ vì được đồng bọn tại Hòn Mê báo động trước nên toán phòng thủ Hòn Niếu chuẩn bị phản ứng. Thấy cuộc đổ bộ bất lợi, sĩ quan trưởng toán phân đội Nam quyết định hủy bỏ cuộc đổ bộ, thay vào đó điều động bắn phá mục tiêu bằng hải pháo trên PTF. Vì mục tiêu quá rõ ràng và tương đối gần, đài truyền tin địch bị phá hủy chỉ trong vài loạt đạn đầu tiên. Sau đó, các PTF chuyển xạ qua các mục tiêu phụ như những cơ sở quân sự vá vị trí phòng thủ. Sau hơn nửa giờ bắn phá không còn thấy địch bắn trả, các PTF-2 và PTF-5 rời vùng hành quân trở về căn cứ. &lt;br /&gt;Phân đội Bắc về tới căn cứ Đà Nẵng vào khoảng 10 giờ sáng ngày 31/7. Phân đội Nam về hơi trễ hơn, khoảng 11 giờ sáng vì PTF-2 bị trục trặc máy móc sau một cuộc hành trình khá xa. &lt;br /&gt;- Chiều ngày 3/7, bốn chiến đĩnh gồm PTF-1, PTF-2, PTF-5 và PTF-6 rời căn cứ Đà Nẵng lên đường công tác. Mục đích là bắn phá các mục tiêu dọc duyên hải Bắc Việt tại Mũi Vinh Sơn và Cửa Ron gần thành phố Vinh, phía Bắc vĩ tuyến 17 chừng 70 hải lý. &lt;br /&gt;PTF-2 vì trục trặc máy móc giống như chuyến công tác kỳ trước nên phải quay trở về. Tới khoảng 2300G, các PTF-1 và PTF-5 dùng hải pháo bắn vào mục tiêu là đài radar Vinh Sơn trong vòng 20 phút. Chiếc PTF-6 còn lại một mình hoạt động tại cửa sông Gianh, bắn phá các mục tiêu trên bờ và một nhóm ngư lôi đĩnh Bắc Việt tại cầu tầu căn cứ Hải Quân Quảng Khê. Một chiến đĩnh Bắc Việt rời bến đuổi theo PTF-6 nhưng sau chừng 40 phút phải quay trở lại vì không theo kịp. Sau khi hoàn tất công tác, các PTF về Đà Nẵng an toàn. &lt;br /&gt;Trong cuộc tấn công vào Hòn Ngự và Hòn Mê vào đêm 30 rạng 31/7, Bắc Việt không cho rằng chiến hạm Mađox đã tham dự, nhưng trong cuộc bắn phá đêm 3 rạng 4/8, Bắc Việt ghi rõ rằng lực lượng tấn công gồm 4 PTF từ Đà Nẵng và 2 Khu Trục Hạm Hoa Kỳ. Một trong những lý do khiến Bắc Việt không nắm vững được số chiến đĩnh tham chiến vì đài radar Vinh Sơn đã bị các PTF bắn hư hại năng không còn hoạt động được. &lt;br /&gt;X. Khả Năng Phòng Duyên Bắc Việt &lt;br /&gt;Hệ thống phòng duyên của Bắc Việt gồm các tầu Hải Quân, ghe đặc công, các giàn radar và đại bác đặt dọc theo duyên hải. &lt;br /&gt;Các tầu của Hải Quân Bắc Việt chỉ có khả năng hoạt động trong vùng "nước nâu" dọc theo duyên hải. Theo tin tức tình báo, vào thời đó, Hải Quân Bắc Việt có 4 Hộ Tống hạm loại SO1, 12 Ngư Lôi Đĩnh P4 và mộ số Khinh Tốc Đĩnh loại Swatow. &lt;br /&gt;Hộ Tống Hạm SO1, trọng tải chừng 250 tấn, do Nga Sô viện trợ, 2 chiếc vào năm 60-61 và 2 chiếc nữa vào năm 64-65. Tầu dài 140 ft, rộng 20 ft, máy loại diesel, vận tốc tối đa 28 gút, thủy thủ đoàn 30 người. Vũ khí gồm 2 giàn đại bác 25 ly đôi đặt trước mũi và sau lái, ngoài ra còn có 4 giàn thủy lựu đạn dùng để chống tầu ngầm. Vào ngày 1/2/66, một chiếc SO1 bị phi cơ Hoa Kỳ đánh chìm, 3 chiếc còn lại bị hư hại hay bất khiển dụng nên không thấy xuất hiện. Đối với các PTF nhẹ nhàng hơn, loại chiến hạm cũ kỹ tuy có hỏa lực khá mạnh nhưng với vận tốc tương đối kém này không phải là mối lo ngại. &lt;br /&gt;Ngư Lôi Đĩnh loại P4 có thể coi là lực lượng chính đáng kể nhất của Hải Quân Bắc Việt, có thể gây thiệt hại cho địch thủ lớn hơn. Chính ngư lôi đĩnh loại P4 này đã đụng độ với Khu Trục Hạm Mađox vào ngày 2/8/64. Đây là loại tầu nhỏ, trọng tải chừng 50 tấn, dài 85 ft, rông 20 ft máy Diesel, vận tốc tối đa 40 gút. Vũ khí gồm 1 giàn thượng liên đôi đặt sau lái và 2 ống phóng ngư lôi đôi đặt hai bên hông tầu. Mỗi quả ngư lôi mang đầu nổ 550 lbs TNT có thể đánh chìm chiến hạm lớn. Tuy nhiên, tầm hữu hiệu của ngư lôi rất ngắn khiến ngư lôi đĩnh phải vào các mục tiêu không quá 1 cây số. Radar thuộc loại 253 còn có tên là "Skinhead", tầm rất ngắn chừng 15 hải lý trong thời tiết tốt. Thông thường, P4 phải chạy với vận tốc cao để phóng ngư lôi nên ăng ten radar phải hạ xuống để bớt cản gió và cũng để khỏi bị hư hại khi tầu nhảy sóng. Tuy P4 có vận tốc khá cao nhưng vẫn còn kém xa PTF; hơn nữa vũ khí chính là ngư lôi coi như không có hiệu quả đối với khinh tốc đĩnh vừa nhỏ vừa nhanh, radar lại có tầm hoạt động ngắn hơn, hỏa lực chỉ có thượng liên, vì vậy P4 không phải là đối thủ của PTF. Đa số các P4 đề đã bị phi cơ Hoa Kỳ đánh chìm trong các cuộc oanh tạc. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Khinh Tốc Đĩnh Swatow trọng tải 67 tấn, dài 83.5 ft, rộng 20 ft, vận tốc tối đa 40 gút. Vũ khí trang bị gồm 2 khẩu đại bác 37 ly đôi. Đây là một đối thủ khá ngang tay với PTF, nhưng PTF có vận tốc cao hơn nên Swatow khó lòng theo kịp. Một số khá lớn Swatow cũng đã bị phi cơ Hoa Kỳ đánh chìm. &lt;br /&gt;Trong những năm hoạt động, các vụ đụng độ giữa PTF và tầu phòng duyên Bắc Việt rất hiếm, nghe đâu chỉ có vài vụ. Một phần vì tiểu đĩnh Bắc Việt không giám ra xa bờ vì sợ bị phi cơ oanh tạc, phần khác vì thấy yếu thế. Một Hạm Trưởng PTF kể lại một vụ đụng độ hiếm có như sau: &lt;br /&gt;" Trong suốt 5 năm hoạt động, chúng tôi chỉ chạm trán với các chiến đĩnh BV một lần vào đầu năm 1968. trong một chuyến công tác do anh X. khóa 9 làm Phân đội trưởng, tôi đi vị trí 2, Y. khóa tôi đi vị trí 3. Trên đường về đến Mũi Đào phía bắc Đồng Hới khoảng 3 giờ sáng, radar phát hiện 3 đối vật từ trong bờ đang tiến đến gần chúng tôi với vận tốc cao. Lập tức, anh X. báo cáo ra Đệ Thất Hạm Đội, cho phân đội vào đội hình chiến đấu và tăng vận tốc lên 55 gút. Theo đúng chiến thuật hải Quân, chúng tôi cố gắng vận chuyển vào đầu chữ T để các khẩu trọng pháo có thể đồng loạt khai hỏa về phía hữu hạm. Địch cũng cố gắng chiếm thế thượng phong. Cuối cùng, hai bên ở thế cài răng lược. Địch khai hỏa trước, còn chúng tôi chỉ tác xạ khi còn cách độ 1000 yards. &lt;br /&gt;Trong cuộc giao tranh ngắn ngủi, chiến đĩnh của anh X. bị trúng đạn hư hại nhẹ, một số nhân viên bị thương. Hai chiếc chúng tôi hộ tống chiến đĩnh bạn về hậu cứ an toàn, Trong những ngày sau đó, tin tình báo cho biết lực lượng địch bị thiệt hại khá nặng vì họ khai hỏa quá sớm, lại tập trung hỏa lực vào chiếc anh anh X. nên bị hai chiến đĩnh của tôi và Y. bắn trúng." &lt;br /&gt;Ghe đặc công: Vì thấy các PTF thường xuyên xét và bắt người trên các ghe đánh cá, Việt Cộng lợi dụng cơ hội này dùng các loại ghe đặc công, bố trí sẵn vũ khí và chất nổ trà trộn trong đám ghe đánh cá để phục sẵn. Khi PTF đến gần, địch bất thần bắn B40 hay liệng chất nổ lên PTF. Tuy chiến thuật này đã vài lần gây thiệt hại cho PTF, nhưng các tên đặc công đều bị bắn chết và thuyền bị đánh chìm ngay tại chỗ. &lt;br /&gt;- Radar duyên phòng: Bắc Việt đặt một số các đài radar dọc theo duyên hải để theo dõi các PTF hoạt động ngoài biển. Nhưng về sau, các đài radar này đều bị phá hủy hoặc bị phi cơ oanh tạc thường xuyên nên không còn hoạt động hữu hiệu. &lt;br /&gt;- Đại bác phòng duyên: Đây là những giàn đại bác đặt trên đỉnh những hải đảo hay mũi đá cao dọc duyên hải để bắn ra ngoài biển. Tầm bắn của những đại bác này khá xa, khoảng 15 hải lý. Tuy bị bắn khá thường xuyên nhưng không có PTF nào bị trúng đạn. Đôi khi, địch còn neo sẵn những ghe khá lớn ngoài biển tại những mục tiêu đã được chấm sẵn tọa độ để làm mồi nhử. Khi các PTF tiến gần để chận xét, pháo binh địch lập tức khai hỏa. Nhưng chiến thuật này cũng không mang lại kết quả cụ thể nào. Tuy không bắn trúng PTF, nhưng đại bác phòng duyên đã bắn trúng một số chiến hạm Hoa Kỳ là mục tiêu lớn hơn.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;XI-. Thiệt Hại &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Trong suốt khoảng 8 năm hoạt động, thiệt hại của LLHT do địch gây ra coi như không đáng kể. &lt;br /&gt;Về mặt chiến đĩnh, không có chiếc nào bị chìm vì trúng đạn địch quân, chỉ có một số bị hư hại nhẹ. Tuy nhiên, có một số bị mắc cạn. Điều này cũng dễ hiểu vì đa số những chuyến công tác đều được thực hiện vào ban đêm, khá gần bờ trong một vùng duyên hải không mấy quen thuộc. Tất cả những PTF mắc cạn sau đó đều bị phi cơ Hoa Kỳ dội bom phá hủy để khỏi rơi vào tay địch quân. Cũng có trường hợp một PTF bị chìm vì trúng hỏa tiễn của phi cơ Hoa Kỳ bắn lầm. &lt;br /&gt;Về phương diện nhân sự, thiệt hại do địch quân gây ra cũng rất nhẹ, chỉ có chừng vài chục người thương vong trong số hàng ngàn chuyến công tác. Thiệt hại nhân mạng nặng nhất xảy ra khi một PTF bị tầu bạn bắn lầm trong lúc tác chiến khiến 2 sĩ quan tử thương. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;XI I . Một Số Ngộ Nhận Và Nghi Vấn Về LLHT &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Vì là một đơn vị Biệt Kích được ngụy trang rất khéo léo, nên rất ít người biết rõ về tông tích nhân viên LLHT. Nhiều khi ngay cả các bạn đồng đội phục vụ trong các đơn vị Hải Quân thông thường cũng không rõ họ ở đâu, ngoại trừ có dịp đi công tác tại vùng Đà Nẵng. Các chiến đĩnh thuộc LLHT cũng là nguồn gốc của nhiều cuộc tranh luận khá sôi nổi, nhất là đối với những tác giả và người không quen thuộc với Hải Quân. &lt;br /&gt;Vì vậy, cho tới bây giờ, sau khi chiến tranh chấm dứt đã gần 30 năm, cũng vẫn còn nhiều ngộ nhận và nghi vấn liên quan tới LLHT. Ngay cả những nhân viên từng phục trong MACSOG cũng như các tác giả Hoa Kỳ vẫn kể và viết lại lắm điều thiếu rõ ràng hoặc không đúng sự thật. Đây không phải vì họ cố tình xuyên tạc, nhưng theo nguyên tắc tình báo, mỗi người chỉ biết được phần nhiệm của mình nên ít ai có được cái nhìn toàn bộ và trung thực. &lt;br /&gt;Sau đây là những "sự thật" mà chúng tôi biết được về một số nghi vấn và ngộ nhận trong các sách vở Hoa Kỳ cũng như Việt Nam. &lt;br /&gt;  - Về Nhân Viên &lt;br /&gt;Tác giả Anthony Austin, trong cuốn sách President's war nói rằng tuy có người Việt Nam trên các chiến đĩnh, nhưng không có ai thuộc HQVN hoặc mặc quân phục Hải Quân. Tất cả thủy thủ đoàn chiến đĩnh đều là dân "đánh mướn". &lt;br /&gt;Trong tài liệu "Maritime Operation" của MACSOG cũng nói cho tới đầu năm 1964, vì không tuyển mộ được nhân viên thuộc HQVN nên phải mướn nhân viên dân sự. &lt;br /&gt;Trong cuốn sách "Tonkin Gulf and the Escalation of Việt Nam War, tác giả là "Sử gia" Edwin Moise của Trường Đại Học Clemson viết rằng: "có nhiều bằng chứng xác thực cho thấy thủy thủ đoàn các chiến đĩnh Nasty thuộc HQVN và họ mặc quân phục trong khi thi hành công tác" (There is good evidence that the Nasty boat crews belonged to the South Vietnammese navy and wore uniform while on operation" (trang 15). Giáo Sư Moise cũng nói: "Hải Quân VNCH cho biết đã tuyển lựa những nhân viên xuất sắc nhất để xung vào LLHT và đặc biệt các sĩ quan đã chứng tỏ họ là những người xuất sắc... (trang 15) - (The RVN Navy had said it was assigning the cream of its men to this program, and the officers in particular were convinced they were the cream". &lt;br /&gt;Sự thật: &lt;br /&gt;Kể từ khi LLHT được thành lập, thủy thủ đoàn của các chiến đĩnh đều thuộc HQVN, tuy nhiên, họ KHÔNG mặc quân phục HQ trong lúc đi công tác. Giáo Sư Moise đã nói đúng về nhân viên đều là những người xuất sắc. &lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;- Về Trang Bị Và Công Tác &lt;br /&gt;Tác giả Điệp Mỹ Linh trong cuốn "Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Ra Khơi" viết: "Các khinh tốc đĩnh (PT - Motor Torpedo Boat) dài độ 80 feet, vỏ bằng nhựa, máy chạy bằng dầu cặn, được đóng tại Na Uy, vận tốc trên 50 hải lý một giờ. Các PT thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải có biệt danh là "Nasty" và "Swift". Mỗi PT thường được trang bị: một súng cối 130 hoặc 81 ly, quay và nhắm được, đặt sau đài chỉ huy; hai đại liên 50 đôi đặt hai bên và một trọng pháo phòng không 40 ly, hai nòng, bắn tự động." (trang 69). Cũng tại trang 69: "Sau khi thi hành công tác từ Bắc về, tinh thần và thể chất quân ta mệt mỏi, rã rời, PT Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa thường bị PT Việt Cộng chận đánh, khoảng Hòn Cọp. PT Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa cũng thường bị MiG Bắc Việt (bay từng cặp) phát giác bằng radar và dùng hỏa tiễn tầm nhiệt tấn công. Việt Cộng thường dùng loại tàu Kronstad, vận tốc độ 35 hải lý một giờ và loại P4, vận tốc 65 hải lý một giờ và trang bị 6 giàn đại liên 50 đôi để tấn công PT Nam Việt Nam".&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Sự Thật: &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; - Các PTF vỏ bằng ván ép hoặc bằng nhôm, không phải bằng nhựa. &lt;br /&gt;- Chỉ có PTF do Na Uy đóng có biệt danh là "Nasty", còn "Swift" là biệt danh của PCF. &lt;br /&gt;- PTF chỉ có súng cối 81 ly đặt TRƯỚC đài chỉ huy, không có súng cối 130 ly; còn PCF súng cối 81 ly mới đặt sau đài chỉ huy. &lt;br /&gt;PTF không có đại liên 50, chỉ có đại bác 20 đặt bên hông. Đại bác 40 ly một nòng, không phải loại hai nòng. Quân ta khi đi công tác về tuy hơi mệt mỏi sau một đêm thức trắng, nhưng không đến độ "rã rời". &lt;br /&gt;PTF không "thường" bị PT Việt Cộng chận đánh khoảng Hòn Cọp. Lý do vì đa số PT Việt Cộng đã bị đánh chìm; chiếc nào còn lại chỉ lẩn trốn trong bờ, không giám nghênh chiến với các PTF trội hơn về hỏa lực cũng như tốc độ, ngoài ra các PTF còn có thể gọi phi cơ Hoa Kỳ trợ chiến khi cần. Chúng tôi còn nhớ trong chiến dịch "Double Tango", các PTF phong tỏa và pháo kích Hòn Cọp liên tiếp cả tháng trời, không thấy có PT Bắc Việt nào chận đánh. Trong suốt 5 năm ở LLHT với trên 100 chuyến công tác, chúng tôi cũng chưa hề nhìn thấy một PT Việt Cộng nào bằng mắt thường. Ban đêm cũng chưa từng "phát hiện" (track) được chiếc nào bằng radar. Theo chúng tôi được biết, trong hàng ngàn chuyến công tác, chỉ có vài ba cuộc đụng độ giữa PTF và các PT Bắc Việt. Bắc Việt gọi Hòn Cọp là Cồn Cỏ. Nói đến hòn đảo này, môt Hạm Trưởng PTF cho biết: &lt;br /&gt;"Trên vĩ tuyến 17, ngoài khơi Vĩnh Linh độ 30 hải lý là một hòn đảo nhỏ mà suốt ngày đài Hà Nội tuyên dương là "Cồn Cỏ anh hùng". Nơi đây có một đơn vị Hải Quân Bắc Việt trú đóng và cũng có trang bị một số súng phòng duyên. Chỉ tội cho các đồng chí cán binh phải ở trong tình trạng ứng chiến tháng này qua tháng nọ. Các chiến đĩnh mỗi khi đi công tác về đều được lệnh tặng vài quả đạn vào đảo để các đồng chí tỉnh ngủ. Các phi cơ Hoa Kỳ cũng dùng đảo này là nơi trút hết bom đạn trước khi về căn cứ". &lt;br /&gt;- Tầu Kronstad tốc độ tối đa lý thuyết chỉ lên đến khoảng 28 hải lý một giờ; Việt Cộng chưa chắc đã có loại tầu này. Còn P-4 vận tốc tối đa 45 hải lý một giờ. &lt;br /&gt;- Nghe đâu chỉ có một vài vụ phi cơ Bắc Việt tấn công PTF. Ngoài ra, hỏa tiễn tầm nhiệt của phi cơ chỉ dùng cho các mục tiêu trên không như trong các trận không chiến hoặc trên đất như chiến xa. Đối với các mục tiêu trên biển, hỏa tiễn không-hải của Mig chỉ là loại thông thường.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;strong&gt; - Trang Bị Và Huấn Luyện &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Tác giả Vương Hồng Anh trong bài "Biệt Hải và Hải Tuần: Trận chiến với CQ ở Duyên Hải" đăng trong Việt báo Kinh Tế ngày 3/12/99, viết: "... Các cố vấn Hải Quân SOG đã biến cải 12 giang tốc đĩnh Swift để xử dụng trong các cuộc hành quân bí mật. Với vận tốc 80 km/giờ, các giang tốc đĩnh được võ trang với đại bác 40 ly và các vũ khí nhẹ. SOG đã đưa thủy thủ đoàn giang tốc đĩnh và các biệt kích từ Long Thành đi huấn luyện xâm nhập bờ biển và oanh kích vùng cận duyên, các toán này được huấn luyện tại môt căn cứ bí mật ở phía nam gần Sài Gòn. Các giang tốc đĩnh đã tập dượt chạy ngoài khơi miền Nam Việt Nam xa bờ từ 100 đến 110 km để có thể tiến gần từ ngoài biển vào Bắc Việt vì con đường biển sát bờ rất đông thuyền bè qua lại khó lòng mà lọt và không bị theo dõi phát hiện". &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Sự Thật: &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Swift không phải là GIANG Tốc Đĩnh mà là DUYÊN Tốc Đĩnh. Giang Tốc Đĩnh (Patrol, Boat River - PBR) là loại tầu nhỏ, vỏ bằng Fiberglass. Chiến đĩnh ngoài biển có thể hoạt động trong sông, nhưng ngược lại, các giang đĩnh khi ra biển rất dễ bị sóng đánh chìm, nhất là khi chạy xa bờ từ 100 đến 110 km. Các thủy thủ đoàn PTF và Swift đều được huấn luyện tại vùng biển Đà Nẵng. Hải trình các chuyến công tác cũng thường song song với bờ biển Bắc Việt, rất ít khi xa bờ tới 100 km. &lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt; - Căn Cứ Hải Quân Việt Cộng &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Tác giả Vương Hồng Anh cũng viết về "Chuyến đột kích phá tàu CSBV ở Hòn Cọp" như sau: "Chuyến công tác đầu tiên là toán Người Nhái bí mật đột kích phá hoại tàu của quân CSBV ở Hòn Cọp..." &lt;br /&gt;Sự Thật: &lt;br /&gt;Việt Cộng không có căn cứ hải quân tại Hòn Cọp và tại đây cũng không có bãi ủi hay chổ neo tầu. Căn cứ hải quân của VC gần vĩ tuyến 17 nhất là Đồng Hới. Theo chỗ chúng tôi được biết, đây là chuyến công tác nhắm vào căn cứ Quảng Khê nằm ở cửa sông Gianh. &lt;br /&gt; - Thủy Thủ Đoàn &lt;br /&gt;Những nhân viên Hoa Kỳ phụ trách việc huấn luyện có thực sự đi theo những chuyến công tác vượt vĩ tuyến 17 không? Mặc dù bị chính sách Hoa Kỳ nghiêm cấm, nhưng điều này có được tuyệt đối tôn trọng không? Theo Đại Tá Bucklew, Chỉ Huy Trưởng Toán Yểm Trợ Hành Quân Hải Quân chịu trách nhiệm về các nhân viên Hoa Kỳ hoạt động cho MACSOG, thì điều luật này thường hay bị vi phạm (habitually violated the prohibition). Sử gia Moise cũng phỏng vấn Đại Tá Bucklew về vấn đề này và viết trong cuốn sách của ông như sau: "Thực ra, Đại Tá Bucklew biết rằng không có trường hợp nào các PTF ở Đà Nẵng đi công tác mà không có nhân viên Hoa Kỳ đi theo. Ông nhớ ràng chính người Mỹ điều hành chiến đĩnh, trong khi nhân viên Việt Nam đi đóng vai trò phụ việc. Ông cũng nói là vào khoảng năm 1964, đã có đề nghị để sĩ quan và thủy thủ đoàn Việt Nam điều hành chiến đĩnh trong những chuyến công tác, nhưng đề nghị này đã bị bác bỏ vì người Việt Nam không đủ khả năng" (trang 16) - (Indeed, he is not aware of any cases in which the PTFs from Danang went on combat operation without American personnel aboard. His recollection is that the Americans were running the boat, with the Vietnamese along in what was essentially an apprenticeship role. He states that there were suggestions during 1964 that Vietnamese officers and men be given actual responsibility for handling the boats on combat missions, but that these suggestions had been opposed on the grounds that the Vietnamese did not have the skills". &lt;br /&gt;Cũng theo sử gia Moise, trong cuộc phỏng vấn ngày 10/3/88, "Đô Đốc Roy L. Johnson, Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Đội kể từ tháng 6/64, nhớ lại rằng thủy thủ đoàn Việt Nam đã chứng tỏ rằng không tin tưởng được. Khi đi công tác ngoài Bắc, đôi khi họ chỉ chạy lòng vòng vài tiếng đồng hồ ngoài biển rồi khai gian là đã hoàn thành công tác giao phó. Do đó, thủy thủ đoàn người Hoa Kỳ đã phải được dùng để thay thế người Việt Nam. Đô Đốc Johnson cũng "khá chắc chắn" rằng vào khoảng tháng 8/64, thủy thủ đoàn Hoa Kỳ đã được dùng trong các công tác đột kích duyên hải Bắc Việt. Nếu sự thay đổi không phải là vào lúc này thì cũng chỉ ít lâu sau đó" (trang 16) - (Vice Admiral Roy L. Johnson, commander of the U.S. Seventh Fleet starting in June 1964, recalls that the Vietnamese crews had proved unreliable. When sent out to an operation against the North, they sometimes just cruised around in circles for a few hours off shore, and then filed a false report claiming that they had conducted the assigned operation. Admiral Johnson is "pretty sure" that American crews were used on raods against the Nort Vietnamese coasts by August 1964; if the change had not come by this time, it come soon after". &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự Thật: &lt;br /&gt;Trong những chuyến công tác vượt vĩ tuyến 17 qua hải phận Bắc Việt, KHÔNG hề có người Mỹ đi theo. Việc thủy thủ đoàn người Hoa Kỳ đưa PTF ra Bắc công tác chỉ có trong trí tưởng tượng của ông Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Đội, vì lúc nào ông cũng nghĩ rằng chỉ có những thủy thủ của ông mới tin tưởng được. Trong nhiều trường hợp, thực tế đã chứng tỏ một hạm trưởng PTF thâm niên biết nhiều về chiến đĩnh và đáng tin tưởng hơn những "cố vấn" chân ướt chân ráo mới tới rất nhiều. &lt;br /&gt;Ngoài ra, các PTF khi đi công tác phải theo hải trình vạch sẵn tới những "check point" vào đúng giờ giấc ấn định để lực lượng bạn không ngộ nhận với tầu địch, vì vậy không hề có chuyện chạy lòng vòng. &lt;br /&gt;Về vấn đề "người Mỹ" này, một hạm trưởng phục vụ lâu năm tại LLHT cho biết như sau: &lt;br /&gt;"LLHT có lẽ là đơn vị độc nhất của QLVNCH mà trong 8 năm chiến đấu trong lòng địch không có một cố vấn Mỹ nào đi theo, các cố vấn NAD chỉ có nhiệm vụ yểm trợ, tình báo, tiếp vận và sửa chữa tầu. Tình cảm của họ đối với chúng tôi tất là sâu đậm. Đôi khi một vài Sĩ Quan hay Hạ Sĩ Quan Mỹ nói đùa thế nào họ cũng đi công tác với chúng tôi một lần. Không ngờ nói chơi mà hóa thật. Trong một chuyến công tác do anh H. làm Phân Đội Trưởng, tôi đi vị trí hai. Vừa qua khỏi vĩ tuyến 17 thì đột nhiên có hai anh chàng Hạ Sĩ Quan Trọng Pháo Mỹ từ hầm tầu bước lên, mặt mày hớn hở tình nguyện đặt dưới quyền chỉ huy của tôi trong chuyến công tác này. Tá hỏa, tôi báo cáo cho anh H. xin quyết định. Anh H. báo cáo ngay về phòng hành quân; chỉ 10 phút sau, lệnh khẩn cấp yêu cầu phân đội quay về hậu cứ ngay lập tức. &lt;br /&gt;Vừa đến cầu tầu là đã thấy xe bít bùng chở hai ông bạn Mỹ thích phiêu lưu lên phi trường về nước ngay lập tức. Cũng vui là chuyện này chỉ xảy ra có một lần". &lt;br /&gt;Chúng tôi hy vọng những điều trình bày trên đây, dù còn rất nhiều thiếu sót, đã làm sáng tỏ phần nào một số sự thật liên quan đến Sở Phòng Vệ Duyên Hải và Lực Lượng Hải Tuần. Bài này cũng nhằm mục đích vinh danh và ghi ơn các chiến sĩ Biệt Kích Hải Quân đã nghe theo tiếng gọi của "Tổ Quốc Đại Dương", không ngại ngần xông pha ngoài biển Bắc. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Trần Đỗ Cẩm &lt;br /&gt;(Tháng 12 năm 1999)&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-6776935940637941550?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/6776935940637941550/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=6776935940637941550' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/6776935940637941550'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/6776935940637941550'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/07/so-pvdh.html' title='Sở Phòng Vệ Duyên Hải'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk5ZlNEm12I/AAAAAAAAEk8/zIlGuCTTcH8/s72-c/SPVDH23.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-949463796599438542</id><published>2009-07-02T17:25:00.001-07:00</published><updated>2009-07-02T17:27:05.118-07:00</updated><title type='text'>Toán Xâm Nhập Bắc Việt Từ 1961-1967</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk1QUuA2TrI/AAAAAAAAEic/vz4Zxt-DXPc/s1600-h/guomthiengaiquocsize3.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 216px; height: 216px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk1QUuA2TrI/AAAAAAAAEic/vz4Zxt-DXPc/s400/guomthiengaiquocsize3.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5354023848892583602" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Toán Ngày Thả Toán Phương Tiện Nhân-Viên Phụ-Chú&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. ARES 02/61 Biển 1 Vẫn liên-lạc trong tháng 04/69.&lt;br /&gt;2. ATLAS 03/61 Thả-Dù 4 2 chết, 2 bị bắt&lt;br /&gt;3. CASTER 05/61 Thả Dù 4 Mất liên lạc 07/63 bên Lào&lt;br /&gt;4. DIDO 06/61 Thả Dù 4 Gửi báo cáo sai-lạc. Chấm dứt.&lt;br /&gt;5. ECHO 06/61 Thả Dù 3 Gửi báo cáo sai lạc cho đến 08/62.&lt;br /&gt;6. TARZAN Thả Dù 6 Liên lạc lần cuối 06/63, mất tích.&lt;br /&gt;7. EUROPA 02/61 Thả Dù 5 Liên lạc lần cuối ngày 27/01/64 từ Bắc Việt.&lt;br /&gt;8. REMUS 16/04/62 Thả Dù 6 Thêm 2 người 12/08/63, 3 người 23/04/64,&lt;br /&gt;4 người Toán ALTER 22/10/64, 4 người 06/65, 2 người 21/08/67. Ngày 13/05/68 Bắc Việt loan tin bắt được quân Biệt-kích trong vùng hoạt động của toán Remus&lt;br /&gt;9. TOURBILLON 16/05/62 Thả Dù 8 Thêm 7 người toán COOTS 27/05/64, 7 người toán PERSEUS 24/06/64, 6 người toán VERSE 07/11/65, 2 người toán TOURBILLON BRAVO 24/12/66. Hiệu thính viên gửi tín hiệu khẩn 01/67. Toán được xử dụng để đánh lạc hướng địch cho đến 04/69.&lt;br /&gt;10. EROS 06/62 Thả Dù 5 Gửi báo cáo sai-lạc. Chấm dứt.&lt;br /&gt;11. PEGASUS 13/04/63 Thả Dù 6 .&lt;br /&gt;12. JASON 14/05/63 Thả Dù 5 .&lt;br /&gt;13. DAUPHINE 04/06/63 Thả Dù 5 .&lt;br /&gt;14. BELL 04/06/63 Thả Dù 7 Thêm 7 người toán GRECO 14/11/64. Lần cuối cùng gửi điện văn 19/03/67. Mt     03/07/67.&lt;br /&gt;15. BECASSINE 06/63 Thả Dù 6 .&lt;br /&gt;16. BART 07/06/63 Thả Dù 5.&lt;br /&gt;17. TELLUS 07/06/63 Thả Dù 4 .&lt;br /&gt;18. MIDAS 10/06/63 Thả Dù 8 .&lt;br /&gt;19. NIKE 10/06/63 Thả Dù 6.&lt;br /&gt;20. GIANT 07/63 Thả Dù 6.&lt;br /&gt;21. PACKER 07/63 Thả Dù 6.&lt;br /&gt;22. EASY 09/08/63 Thả Dù 8 Thêm 6 người toán PISCES 18/07/64, Thêm 5 người toán HORSE 05/65, Thêm 9 người 17/09/65. thêm 3 người 8/10/65 Toán (DOG/GECKO). Toán DOG/GECKO đổi tên là EASY ALPHA nhẩy xuống 07/67. Lần cuối cùng liên lạc 26/04/68 báo chí ngoài Bắc loan báo bắt được 12 Biệt Kích quân, trong đó có toán trưởng.&lt;br /&gt;23. Không tên 12/08/63 Thả Dù 2 Tăng cường cho toán REMUS.&lt;br /&gt;24. SWAN 04/09/63 Thả Dù 6.&lt;br /&gt;25. BULL 07/10/63 Thả Dù 7.&lt;br /&gt;26. RUBY 05/12/63 Thả Dù 8.&lt;br /&gt;27. Không tên 23/04/64 Thả Dù 3 Tăng cường cho toán REMUS.&lt;br /&gt;28. ATTILA 25/04/64 Thả Dù 6.&lt;br /&gt;29. LOTUS 19/05/64 Thả Dù 6 Bị bắt, bị đưa ra toà lãnh án.&lt;br /&gt;30. COOTS 27/05/64 Thả Dù 7 Tăng cường cho toán TOURBILLON. &lt;br /&gt;31. SCORPION 17/06/64 Thả Dù 7 Bị bắt, đưa ra tòa.&lt;br /&gt;32. BUFFALO 19/06/64 Thả Dù 10 Bị bắt, đưa ra toà.&lt;br /&gt;33. EAGLE 28/06/64 Thả Dù 6 Bản phân tích 06/68: Bị địch bắt, còn 3 người dự trù di chuyển về hướng Nam. Bắt đầu di chuyển 11/68. Còn liên lạc trong năm 69.&lt;br /&gt;34. PISCES 18/07/64 Thả Dù 6 Tăng cường cho toán EASY.&lt;br /&gt;35. PERSEUS 24/07/64 Thả Dù 7 Tăng cường cho toán TOURBILLON.&lt;br /&gt;36. BOON 29/07/64 Thả Dù 9 Bị bắt đưa ra tòa lãnh án.&lt;br /&gt;37. ALTER 22/10/64 Thả Dù 4 Tăng cường cho toán REMUS.&lt;br /&gt;38. GRECO 14/11/64 Thả Dù 7 Tăng cường cho toán BELL. CENTAUR 28 Toán bị rớt máy bay C-123 ngày 10/12/64 nơi Ngũ Hoành SơnÐà Nẵng. Tử nạn REMUS ALPHA 05/65 5 Một phần của REMUS được lệnh triệt xuất qua Lào. Lần liên lạc cuối cùng 21/08/65. Tọa độ Vic 785367. “im lặng vô tuyến, đi Vạn Tượng (Lào)&lt;br /&gt;39. HORSE 05/65 Thả Dù 5 Tăng cường cho toán EASY.&lt;br /&gt;40. DOG/GECKO 17/09/65 Thả Dù 9 Tăng cường cho toán EASY. Sau bổ túc EASY ALPHA thành toán EASY ALPHA 30/10/65. Nhập lại toán EASY trong tháng 07/67.&lt;br /&gt;41. VERSE 07/11/65 Thả Dù 8 Tăng cường cho toán TOURBILLON. Hai người chết lúc thả dù. Toán hướng dẫn TOURBILLON về kỹ thuật thám sát đường mòn. 21/12/65, TOURBILLON chia 3 người qua toán VERSE. Toán VERSE tách ra. Ngày 27/07/67, radio Hà-Nội loan tin bắt sống toán.&lt;br /&gt;42. ROMEO 19/11/65 Trực Thăng 10 Tháng 10/66 nhận được điện văn rất rõ 'ROMEO đã bị bắt'. Lần cuối cùng liên lạc 05/08/68. Báo cáo mất tích 04/11/68.&lt;br /&gt;43. KERN 05/03/66 Thả Dù 9 Một người chết lúc thả dù. Lần cuối cùng liên lạc 05/09/66. mất liên lạc 07/12/66.&lt;br /&gt;44. HECTOR 22/06/66 Trực Thăng 15 Thêm 11 người toán HECTOR BRAVO 23/09/66. Hai toán không gặp được nhau. Bỏ rơi BRAVO 28/12/66. HECTOR liên lạc lần cuối 15/03/67. mất liên lạc 26/06/67.&lt;br /&gt;45. SAMSON 05/10/66 Trực Thăng 8 Bãi đáp bên Lào. Liên lạc lần cuối 02/12/66. Bỏ rơi 01/03/67.&lt;br /&gt;46. TOURBILLON 24/12/66 Thả Dù 2 Tăng cường cho TOURBILLON. Ðem BRAVO theo máy nghe lén điện thoại và máy dò thính.&lt;br /&gt;47. HADLEY 26/01/67 Trực Thăng 11 Xâm nhập vào miền Bắc bằng đướng bộ. Bản phân tích 06/68: Toán bị bắt ít lâu sau khi xâm nhập. Dùng để đánh lạc hướng địch quân từ 06/67. Ðược lệnh triệt xuất qua Lào. 03/69, toán báo cáo đã ở bên Lào cho trực thăng bốc về. Tìm không ra vị trí của toán. &lt;br /&gt;48. HANSEN 22/04/67 Trực Thăng 17 Toán chưa hề ra đến Bắc Việt Nam. Ðịch xuất hiện nơi bãi đáp. Yêu cầu triệt xuất.&lt;br /&gt;49. Không tên 21/08/67 Thả Dù 2 Tăng cường cho toán REMUS.&lt;br /&gt;50. GOLDFISH 13/09/67 Ðường Biển 1 Xâm nhập bằng Plowman. Ðiệp vụ 327. Ðiệp viên tuyển mộ trong nhóm tù binh ở Paradise. Ðiệp viên sẽ nằm vùng 60- 90 ngày và triệt xuất bằng đường biển. Mất liên lạc.&lt;br /&gt;51. RED DRAGON 21/09/67 Thả Dù 7 Bị phân tán lúc thả dù. Người Hoa-Kỳ tin là họ bị bắt. Sĩquan Việt-Nam cho rằng toán an toàn trong bản báo cáo 06/68. Vẫn liên lạc cho đến tháng 04/69. &lt;br /&gt;52. VOI 18/10/67 Thả Dù 4 Mất liên lạc sau khi xâm nhập.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-949463796599438542?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/949463796599438542/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=949463796599438542' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/949463796599438542'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/949463796599438542'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/07/toan-xam-nhap-bac-viet-tu-1961-1967.html' title='Toán Xâm Nhập Bắc Việt Từ 1961-1967'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk1QUuA2TrI/AAAAAAAAEic/vz4Zxt-DXPc/s72-c/guomthiengaiquocsize3.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-3324182130178675462</id><published>2009-07-01T17:26:00.000-07:00</published><updated>2009-07-01T17:28:45.799-07:00</updated><title type='text'>Trận Chiên Bí Mật / Lời Giới Thiệu</title><content type='html'>&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sko3_YZb44I/AAAAAAAAEgA/Im7-XgOxzC4/s1600-h/specialoperation200.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 164px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sko3_YZb44I/AAAAAAAAEgA/Im7-XgOxzC4/s400/specialoperation200.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353152669103678338" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM&lt;br /&gt;Trong chiến tranh Việt-Nam, một đơn-vị tối mật được ít người biết đến với danh hiệu Nha-Kỹ-Thuật thuộc bộ Tổng-Tham-Mưu, Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Những quân-nhân trong đơn-vị bí mật này thường được gọi là Lôi-Hổ hoặc xếp họ vào hàng lính Biệt-Kích thuộc binh-chủng Lực-Lượng Ðặc-Biệt. Người Hoa-Kỳ cho rằng Nha-Kỹ-Thuật là một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Ðông-Dương. Cả hai đơn-vị NKT và LLÐB đều được Hoa-Kỳ yểm trợ mạnh mẽ, NKT có tổ chức riêng biệt dựa theo cơ-cấu tổ chức của LLÐB. Các 'Sở' hoặc Bộ-Chỉ-Huy (CCN, CCC, CCS - Command &amp; Control North, Central, South) tương đương với các Bộ-Chỉ-Huy 'C' (C1, C2, C3, C4) của LLÐB. Các 'Căn-cứ Hành-Quân Tiền-phương' (FOB – Forward Operation Base) tương-đương với các BCH 'B' (B50, B52, B57, v.v...). Các toán 'Lôi-Hổ' tương-đương với các toán 'A' biên-phòng. Bài viết này theo tài liệu trong cuốn 'SOG – The Secret Wars of America's Commandos in Vietnam', tác giả John L. Plaster. Tháng Hai 1961, môt chiếc thuyền đóng theo kiểu những thuyền đánh cá khác ở Bắc Việt-Nam trôi bềnh bồng ngoài khơi vịnh Bắc Việt, lặng lẽ hướng về Cẩm-Phả, một  thành phố nhỏ ven biển. Hai đêm trước, họ đã lướt qua hải cảng Hải-Phòng một cách êm-thấm. Ðêm nay lúc hoàng hôn, họ có thể thấy mờ-mờ những rặng núi trong tỉnh Quảng-Ðông của Trung-Hoa vào khoảng 40 dặm về phiá bắc. Trường hợp không may xẩy ra, nếu họ bị bao vây, sẽ không có một chiếc tầu nào của phe ta đến tiếp cứu họ. Chiếc thuyền con không được đóng ở ngoài Bắc mà ở Vũng- Tàu cách xa 800 dặm, những người lái tầu đã được cơ-quan tình báo CIA Hoa-Kỳ bí-mật tuyển mộ và huấn luyện để đưa một người Việt-Nam tuổi khoảng trung tuần đem theo máy truyền tin xâm nhập vào miền Bắc. Ðiệp viên bí danh Ares đã đặt chân lên miền Bắc thành công mỹ-mãn. Dưới thời tổng-thống Kenedy, điều-khoản số 52 trong Hội Ðồng An-Ninh Quốc-Gia chấp thuận cho cơ-quan CIA xư ûdụng quân Biệt-Kích Mũ- Xanh (Special Forces) và đơnvị Người Nhái Hải Quân (Navy SEALs) để huấn-luyện, cố-vấn quân-nhân Việt-Nam&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM Trang 5&lt;br /&gt; trong những nhiệm-vụ bí-mật do ông trùm Xịa CIA Colby tổ chức. Tại thành phố bờ biển Nha-Trang, Lực-Lượng Ðặc-Biệt Hoa-Kỳ huấn luyện cho Biệt- Kích quân Việt-Nam thuộc Liên-Ðoàn 1 Quan-Sát để dòthám đường mòn Hồ-Chí- Minh. Trong năm 1961-1962, Liên-Ðoàn 1 Quan-Sát tổ chức 41 cuộc hành-quân viễnthám, tìm kiếm dấu vết đường xâm-nhập cuả địch qua ngã Lào. Trong khi đó, ngoài Ðà- Nẵng, toán người-nhái Hoa- Kỳ huấn luyện thủy-thủ Việt- Nam, chuyên chở người xâm nhập miền Bắc bằng đường biển. Ngoài ra tổ chức thêm những toán Biệt-Hải với nhiệm-vụ mở những cuộc tấn công bất ngờ các mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc. Sau vài chuyến thành công, Hải- Quân Bắc Việt đã đề phòng, ngăn chận đánh chìm một số hải thuyền. Sau khi nhận định lại tình hình, cơ-quan CIA đổi hướng xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng-không qua sự tiếp tay của Không-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Các nhân-viên (Trong giai đoạn này họ là dân-sự) xắp&lt;br /&gt;xâm nhập miền Bắc được huấn luyện trong căn cứ ở Long-Thành, cách Saigon khoảng 20 dặm về hướng đông. Quân Mũ-Xanh và nhân viên CIA huấn luyện họ về ngành tình-báo, kỹ-thuật pháhoại, xử-dụng vũ-khí, nhẩy dù, đánh morse và mưu-sinh. Những khả năng để họ có thể hoạt động trong nhiều năm  ngoài Bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến cuối muà Xuân 1961, điệp-viên Ares vẫn thường gửi những điện văn morse đến trung tâm truyền tin viễn thông của CIA ở Phi-Luật-Tân để báo cáo. Không như điệp viên Ares, ra đi đơn độc. Bây giờ đến giai đoạn thả những toán biệt kích xâm-nhập từ 3 đến 8 người. Họ không được may mắn như điệp-viên Ares.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyến đầu tiên thả toán Atlas, toán này không có cơ hội để gửi điện văn báo cáo là đã đến nơi, chiếc máy bay chở họ cũng biến mất luôn! Tướng Kỳ đích thân lái phi vụ thứ hai thả toán Castor sâu vào miền Bắc Việt-Nam. Ba tháng sau, Hà-Nội làm rùm beng vụ đem xét-xử ba người sống sót trong toán Atlas. Ít lâu sau toán Castor cũng mất liên-lạc, rồi đến hai toán Dido và Echo cũng nằm trong tay địch quân. Toán cuối cùng thả xuống miền Bắc trong năm  1961 là toán biệt kích Tarzan cũng mất tích. Trong mùa hè 1962, cơ-quan CIA đồng-ý bàn giao các hoạt động trong vùng Ðông-Nam- Á cho quân-đội trong vòng 18 tháng. Chương trình bàn giao có tên là Kế-Hoạch Trở-Lại (Operation Switchback). Rồi thì chính-biến 1-11-1963 xẩy ra và nhiều biến đổi trong miền Nam Việt-Nam làm cho kế-hoạch chậm trễ. Quân-đội Hoa-Kỳ vẫn chưa có một đơn vị đặc biệt nào để đảm nhận chương trình của CIA bàn giao.&lt;br /&gt;Hà-Nội gia tăng mức độ xâm nhập vào miền Nam làm cho bộ-trưởng Quốc-Phòng Mc Namara ra lệnh thả nhiều toán 'Biệt-Kích' ra ngoài Bắc phá hoại 'Giới lãnh-đạo miền Bắc nên biết rằng họ sẽ phải trả giá nếu còn tiếp tục nuôi dưỡng, cho quân xâm nhập vào miền Nam'. Kế-hoạch 34A (OPLAN-34A) ban-hành ngàỵ 15 tháng 12 năm 1963 giới hạn cho một số mục tiêu. Mặc dầu Mc Namara thúc đẩy, kế-hoạch 34A bắt đầu từ ngày 1 tháng Hai 1964, Bộ- Chỉ-Huy Quân-Viện (MACV) mới lập xong một đơn vị cho các hoạt động bí mật của CIA.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðơn vị này do một đại-tá chỉ huy và bao gồm nhiều đơn vị, từ LLÐB, Người Nhái, Không-Ðoàn Cảm-Tử (Air Commando). Ðơn vị mới này lấy tên là SOG (Special Operation Group) Liên-Ðoàn Hành-Quân Ðặc-Biệt. Sau đó đổi tên để bảo mật mặc dầu vẫn viết tắt là SOG (Study and Observation Group) Ðoàn Nghiên-Cứu, Quan-Sát, tên mới nghe có vẻ chỉ gồm những chuyên-gia hoặc những nhà giáo.&lt;br /&gt;Ðơn-vị mới SOG không trực thuộc cơ-quan MACV hoặc cấp chỉ huy của MACV là tướng William Westmoreland, mà nhận lệnh thẳng từ bộ TTM/QLHK (JCS) trong Ngũ- Giác-Ðài và thường nhận lệnh từ tòa Bạch Ốc. Chỉ có 5 sĩ quan cao cấp Hoa-Kỳ ở Saigon được báo cáo về những hoạt động bí-mật của SOG: Tướng Westmoreland, tham-mưu-trưởng của ông ta, trưởng phòng Nhì, tư-lệnh Ðệ- Thất Không-Lực, và viên tưlệnh lực-lượng Hải-Quân HK tại Việt-Nam. SOG được chấp thuận mở những cuộc hành quân phát xuất từ miền Nam Việt-Nam, và Thái-Lan vào đất Ai-Lao, Miên, Bắc Việt và có thể ở phiá bắc Miến-Ðiện, Quảng Ðông, Quảng Tây, Hồ-Nam và đảo Hải-Nam bên Tầu. Ngân khoản dành cho SOG sẽ&lt;br /&gt;dấu trong ngân khoản dành cho Hải-Quân Hoa-Kỳ. Trùm SOG là một sĩ-quan thuộc binh-chủng Nhẩy-Dù trong trận Thế-Chiến thứ Hai, sau đó chuyển qua Lực-Lượng Ðặc-Biệt trong thập niên 50. Ðại-Tá Clyde Russell đã từng theo sư-đoàn 82 Dù nhẩy xuống Pháp, Hòa-Lan, sau đó chỉ-huy Liên-Ðoàn 10 LLÐB bên Âu-châu, sau đó là LiênÐoàn 7 LLÐB trong căn-cứ Fort Bragg, North Carolina. Trong kế-hoạch 34A, đại-tá Russell và ban tham-mưu thay đổi cơ-cấu tổ chức của LiênÐoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát dựa theo tổ chức OSS xâm nhập với sở Không yểm, Hải yểm và một đơn-vị Tâm-lý chiến. Cơ-quan CIA cho SOG xử-dụng hệ-thống tiếp-liệu đặc biệt với những đồ chơi 'Xa-xỉ phẩm' như vũ-khí tối tân, dụng cụ câu dây điện thoại để nghe lén. Ðồ tiếp liệu bí mật này có trong căn cứ Chinen ở Okinawa. Ngoài ra còn có thêm văn phòng chuyên lo việc tiếp liệu cho đơn vị SOG và LLÐB. CIA bàn giao thêm cho SOG một phi đội C-123 từ Ðài- Loan do các phi-công Ðài- Loan lái để thay thế các máy bay C-47 của Không-Lực VNCH. Phi-đội này có tên là Ðệ Nhất gồm bốn chiếc C- 123. Mỗi chiếc có một phi hành đoàn phụ Hoa-Kỳ để bay những phi vụ trong miền Nam, các phi-công Ðài-Loan bay những phi vụ ra Bắc hoặc qua đất Miên. Những phi công Ðài-Loan này không biết tiếng Việt, có thẻ căn-cước Việt-Nam nhưng chỉ một số rất ít viên chức Việt-Nam mới biết họ là ai. CIA cũng bàn giao thành quả 3 năm hoạt-động của họ cho tới năm 1964. Tất cả 22 toán thả ra ngoài Bắc, chỉ còn liên-lạc được 4 toán Bell, Remus, Easy, Tourbillon và Ares. Trong căn-cứ Long- Thành gần Saigon, SOG nhận được khoàng hơn 20 nhân viên đang thụ-huấn. Các sĩ quan SOG không tin tuởng nơi họ và phải loại trừ những quân nhân đó. SOG cũng không thể trả họ về cho QL/VNCH vì họ đã biết những nhiệm-vụ, hoạt động bí mật của cơ-quan ở ngoài Bắc. Cách giải quyết dễ dàng nhất là... cứ thả họ ra ngoài Bắc (Bỏ rơi cho địch quân). Trong tháng Năm, Sáu, Bảy 1964, các toán Boone, Buffalo, Lotus và Scorpion nhẩy dù xuống miền Bắc và đều bị bắt hết. Ngoài ra một số nhân viên khác cũng được gửi ra  ngoài Bắc để tăng cường cho hai toán Remus và Tourbillon. Sau khi thanh toán xong các toán do CIA để lại, SOG bắt đầu tuyển mộ nhân viên mới cho một chương trình huấn luyện dài 21 tuần lễ. Danh từ 'LÔI-HỔ' có từ đây. Ðể yểm trợ cho kế-hoạch 34A tấn công bất ngờ bờ biển Bắc Việt, trong đêm 16 tháng 2 năm 1964, ba thủy thủ người Na-Uy lái chiếc tầu Nasty (chạy rất nhanh, hỏa lực mạnh do Na-Uy chế tạo) chở theo người nhái Việt-Nam dự tính phá hủy một chiếc cầu, bị địch phát giác phải quay trở lại. Mấy đêm sau, một toán phá hoại người nhái khác xâm nhập miền Bắc bị thất bại, mất đi 8 quân nhân thuộc Lực- Lượng Người Nhái HQVN. Qua tháng 7, các tốc đỉnh Nasty và Biệt-Hải dùng chiến thật tấn công bất ngờ rồi chạy, phá hủy được năm mục tiêu ngoài Bắc trong hai ngày 9 và 25 tháng Bảy. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 30 tháng 7, SOG xử dụng 5 chiếc tốc đỉnh Nasty tấn công những dàn ra-đa gần Hải-Phòng gây  nhiều tiếng nổ phụ. Trong tháng Tư 1964, bộ trưởng quốc-phòng Mc. Namara ra lệnh thám-thính phần đất bên Ai-Lao. Chương trình 'Leaping Lena' bắt đầu thả toán đầu tiên qua Lào ngày 24 tháng Sáu, đến 1 tháng Bảy, năm toán Biệt- Kích Việt-Nam nhẩy dù qua biên giới Lào để dò-thám các hoạt động của quân-đội Bắc Việt Chương trình 'Leaping Lena' tới tai cố-vấn của tổngthống Hoa-Kỳ, ông William Bundy qua bản báo cáo 'Tất cả các toán đều bị địch tìm ra vị-trí, chỉ còn bốn người sống sót chạy thoát trở về'. Ðầu năm 1965, phi công Jim Ryan của Air America (CIA), chụp được một số hình ảnh, những con đường mới làm từ  đèo Mụ-Già qua phần đất Ai- Lao, hệ thống đường mòn Hồ- Chí-Minh gia tăng. Ngày 8 tháng Ba năm 1965, SOG có một cấp chỉ huy mới là Ðại-Tá Donald Blakburn, một huyền thoại trong ngành Lực-Lượng Ðặc-Biệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tài liệu:&lt;br /&gt;SOG The Secret Wars Of America's Commandos in Vietnam, John L. Plaster.&lt;br /&gt;Dallas 20-11-1999&lt;br /&gt;VÐH&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-3324182130178675462?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/3324182130178675462/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=3324182130178675462' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/3324182130178675462'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/3324182130178675462'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/07/tran-chien-bi-mat-loi-gioi-thieu.html' title='Trận Chiên Bí Mật / Lời Giới Thiệu'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sko3_YZb44I/AAAAAAAAEgA/Im7-XgOxzC4/s72-c/specialoperation200.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-5840630196016692195</id><published>2009-06-30T14:36:00.005-07:00</published><updated>2009-07-03T14:17:37.086-07:00</updated><title type='text'>Chiến Tranh Ngoại Lệ / Trận Chiến Bí mật</title><content type='html'>&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkpjJ4e6YaI/AAAAAAAAEgI/fp4MrRWWMWQ/s1600-h/C123SOG.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 237px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkpjJ4e6YaI/AAAAAAAAEgI/fp4MrRWWMWQ/s400/C123SOG.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353200128515269026" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM Trang 9&lt;br /&gt;Năm 1957, chính quyền Eisenhower tài trợ cho một chương trình bí-mật. Phối hợp giữa cơ quan Trung-Ương Tình-báo CIA và bộ Quốc- Phòng Hoa-Kỳ giúp đỡ việc thành-lập một đơn-vị Lực- Lượng Ðặc-Biệt cho Nam Việt- Nam. Ðơn-vị này tên là LiênÐoàn Quan-Sát số 1, âm-thầm xâm-nhập vào hàng ngũ quân du-kích cộng-sản. Ðể bảo mật, Liên-Ðoàn Quan- Sát số 1 do một ban tình báo trong bộ quốc phòng, ban Nghiên-Cứu điều hành. Ban này có hai thay đổi, thứ nhất đổi tên là Phòng Liên-Lạc Phủ Tổng- Thống, dưới sự theo dõi trực tiếp của tổng-thống Diệm. Thứ hai, trung-tá Lê-Quang-Tung được chỉ định làm trưởng phòng Liên- Lạc. Năm 1958, cơ-quan CIA tại Saigon, thành lập ban ngoại-vụ để làm việc với phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trưởng ban là Russell Miller dưới danh hiệu ngoại-giao, ông ta để ý trung-tá Tung chọn mười hai nhân viên cho đơn vị mới. Mười một sĩ quan trẻ thiếu-úy hoặc trung-úy, dưới quyền đại-úy Ngô-Thế- Linh, người đã làm việc 5 năm ngoài Ðà-Nẵng. Trong tháng Mười Một, mười hai người được đưa qua Saipan. Họ được cơ-quan CIA huấn luyện hai tháng về nhiều môn, tình-báo tác-chiến, phương-thức phá-hoại và điều-khiển đường giây tình-báo. Trở về Saigon vào cuối năm, đại-úy Linh được chính thức bổ nhiệm làm trưởng  phòng Bắc Việt (bí-danh phòng 45) trong phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống. Chỉ có hơn chục người, trong những tháng kế tiếp, phòng 45 lo việc huấn luyện thêm nhân viên. Ðến giữa năm 1959 một nhóm năm sĩ-quan khác được đưa qua Saipan thụ huấn khóa huấn luyện nắn sáu tuần lễ. Sau đó ít lâu, cơ-quan CIA cử nhân viên qua Saigon huấn luyện hai lần, mỗi lần khoá huấn luyện kéo dài mười hai tuần lễ. Lần này chương trình huấn luyện nhằm vào những sĩ quan trẻ sinh quán nơi miền Bắc và gốc người thiểu-số. Trong khi việc huấn luyện kéo dài đến cuối năm 1959. Phòng 45 phác-họa kế hoạch đầu tiên, họ tìm cách xâm nhập vào một hậu phương mà địch kiểm soát rất chặt chẽ gần năm năm. Cơ quan CIA biết rõ trở ngại của phòng 45. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước đó năm 1951- 1953, họ cho xâm nhập 212 điệp viên Tầu vào Hoa-Lục, một nửa bị giết, nửa khác bị bắt. Trên đất Hàn quốc, kết quả cũng tương tự. Phòng Liên-Lạc phủ Tổng Thống trao trách nhiệm cho trung-úy Ðỗ-Văn-Tiên bí danh Francois gửi một điệp-viên đơnđộc (singleton) ra ngoài Bắc. Francois tìm được một người có khả năng là Phạm-Chuyên, đã từng là đảng viên trong tỉnh Quảng-Ninh bị vợ bỏ, ông ta di cư  vào miền nam. Mới đầu Phạm-Chuyên từ chối làm việc, mặc dầu trung-tá Lê-Quang- Tung đã cho đàn em theo dõi, dụ dỗ sáu tháng. Trung-úy Tiên (Francois) cộng tác với một nhân viên CIA là Edward Reagan tìm cách thuyết phục Chuyên, sau hơn sáu tháng Phạm Chuyên nhận lời. Người điệp viên mới được đưa ra Nha-Trang để qua kỳ trace nghiệm tâm-lý. Chuyên đạt được điểm xuất sắc, sau đó qua hai kỳ khảo nghiệm (test) nữa, một ở Saigon và ở Nha-Trang. Tiếp theo là phần huấn luyện cho Chuyên sáu tháng về ngành truyền-tin. Trong khi Chuyên được huấn luyện, trung-úy Tiên và Reagan bận rộn phác-hoạ kế hoạch gửi người điệp viên trở ra ngoài bắc. Chuyên sẽ nằm vùng dài hạn trong tỉnh Quảng-Ninh, một tỉnh ngay bờ biển, nơi Chuyên rất rành-rẽ, cho Chuyên xâm nhập bằng đường biển là điều hợp lý. Hai chuyên viên ình báo bay ra Ðà-Nẵng tìm địa điểm phát xuất, họ thuê một biệt thự có tường cao bao quanh làm căn cứ. Tất cả những hoạt động của họ từ đó trở về sau có mật hiệu là Pacific (Thái-Bình- Dương).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi Chuyên được gửi đi, Phòng 45 quyết định kế hoạch ngắn hạn, thả điệp viên qua vùng phi quân-sự, dọc theo vĩ tuyến 17. Người được tuyển chọn cho kế hoạch này là một người theo đạo công giáo, quê ở Hà-Tĩnh tên là Vũ-Công-Hồng. Hồng được huấn luyện nhanh chóng và đưa ra Huế sống trong một căn nhà an-toàn. Trong nhà có thêm hai sĩ-quan trẻ thuộc phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống là Phạm-Văn-Minh và Trần-Bá- Tuân, cả hai đều đã được huấn luyện ở Saipan. Hai người có bí danh là Michael và Brad. Họ làm việc với nhân viên CIA David Zogbaum. Cũng như Francois (tr/u Tiên), Reagan trong Ðà-Nẵng, các hoạt động phát xuất từ Huế có mật hiệu là Atlantic (Ðại-Tây-Dương). Vũ-Công-Hồng mang bí danh là Hirondelle đã sẵn sàng ra đi. Thiếu-tá Trần-Khắc-Kính nhân vật thứ hai trong phòng Liên- Lạc PTT, có mặt trong lúc thả điệp viên  Hirondelle qua sông Bến-Hải. Qua sông, Hirondelle biến mất vào màn đêm và trở lại miền nam vài tuần sau. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc dầu chỉ cho biết tin tức về đường đi nước bước, hệ thống an-ninh nơi miền Bắc, người điệp viên làm cho phòng 45 phấn khởi. Hai tháng sau chuyến đi của Hirondelle, Chuyên đã sẵn-sàng sau một năm huấn luyện. Sứ mạng của Chuyên khác với Hirondelle. Chuyên sẽ thu-thập tin tức tình báo, tuyển mộ thêm điệp viên và sẽ nằm vùng trong nhiều năm. Theo kế-hoạch (vỏ bọc / ngụy trang) Chuyên sẽ trở nên một người đánh cá ở Cẩm-Phả, một làng nhỏ gần vịnh Hạ- Long. Ðó cũng là quê của Chuyên trước năm 1958, sự trở về của Chuyên có thể bị lộ, tuy nhiên ông ta còn có gia đình, anh em, vẫn hy vọng được che chở. Phạm-Chuyên đã sẵng sàng ra đi với bí danh Ares. Ðầu tháng Tư năm 1961, Ares lên tầu Nautilus I rời Ðà-Nẵng theo chuyến hải hành hai ngày về phiá bắc. Gặp thời tiết xấu, chiếc Nautilus I phải quay trở về bến. Vài hôm sau, thời tiết trở nên tốt, điệp viên Ares lại lên  đường. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cả hai Francois và Reagan ra bến tầu tiễn Ares, Francois nhớ lại 'Tôi chúc anh ta đi may mắn'. Ðiệp viên Ares không nói một lời nào. Bầu trời xanh, biển lặng, chiếc Nautilus I lặng lẽ xâm nhập vào vùng biển Quảng-Ninh, sau đó Ares chèo xuồng nhỏ đổ bộ lên bờ. Ðịa điểm đổ bộ gần Cẩm- Phả, Ares đem đồ tiếp vận lên bờ rồi dấu hai máy truyền tin. Nhiệm vụ đầu tiên, anh ta phải tuyển mộ thêm một người để giúp đỡ trong việc xử dụng máy truyền tin. Phòng 45 đã rõ điều này nên sẽ chờ tín hiệu của Ares trong vòng nhiều tuần hoặc nếu không vài tháng. Không bị phát giác, có người trông thấy, người điệp viên lẻn về làng cũ, và vào thẳng căn nhà xưa của mình. Xum họp với gia đình, Ares thuyết phục người em Phạm-Ðộ. Miễn cưỡng, anh ta đi theo Ares ra bờ biển thâu hồi hai máy truyền tin. Họ đào hố chôn hai cái máy ở trong nhà. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyến xâm nhập của Ares coi như thành công. Ngày 9 tháng Tư, mấy ngư dân khám phá ra chiếc xuồng nhỏ của Ares. Tiếp theo sau là những cuộc khám xét làng đánh cá do lực lượng an-ninh. Sau khi xác định không ai làm chủ chiếc xuồng nhỏ, cuộc khám xét lan tràn ra bãi biển, và công-an tìm ra hố chôn dấu hai máy truyền tin. Nghi ngờ điệp viên địch (miền nam) xâm nhập, viên chỉ huy lực lượng công an tỉnh Quảng Ninh thảo kế hoạch khám xét từng nhà, đặc biệt những nhà có người di cư vào nam, và những gia đình có liên hệ với chế độ thực dân trước đây. Không biết chuyện đó, Ares vẫn trốn trong một cánh rừng gần đó. Anh ta đem theo một máy truyền tin, nhờ người em quay máy (crank), điệp viên Ares gửi đi bức điện văn đầu   tiên. Ðể tránh làn sóng bị giao thoa, Ares đánh tín hiệu từ bờ biển miền bắc Việt-Nam, vượt đại dương đến trạm Bugs, mật hiệu do cơ-quan CIA đặt cho trạm viễn thông ở Phi-Luật-Tân. Từ đó bản điện văn sẽ được tiếp vận, truyền đi đến cơ quan CIA tại Saigon. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Robert Kennedy, nhân viên CIA bước vào phòng 45 với bức điện văn trên tay vẫy-vẫy mừng rỡ nói lớn 'Thành công!'. Một phó bản bức điện văn của Ares được trình lên tổng-thống Diệm. Sau đó Ares gửi thêm hai mươi hai bản báo cáo nữa trong một thời gian gấp rút. Trong khi đó tại Quảng-Ninh, nhân viên phản-gián Bắc Việt dò làn sóng viễn thông để lấy những bản điện văn. Một cụ già cũng báo cáo cho công an rằng có người lạ tìm cách dấu mặt đang sống trong một căn chòi gần bãi biển. Cụ già nói thêm, có người trong nhà khoe một cây viết nguyên tử, vật ít thấy nơi miền bắc. Với những điều thâu thập, công-an theo dõi nhà của gia đình Phạm Chuyên. Ngày 11 tháng Sáu, giới thẩm quyền bắt giữ Phạm-Ðộ trong khi anh ta đem đồ tiếp tế vào rừng cho anh mình. Sáu ngày sau, họ khám phá ra máy truyền tin thứ hai chôn dấu trong nhà cùng với bản mật mã. (số phận người điệp viên Ares Phạm Chuyên ra sao???). Hà Nội có hai lựa chọn. Công bố vụ bắt được điệp viên Ares rồi đưa ra toà như nhóm Ðại- Việt trước đây, hoặc dùng Ares làm gián điệp đôi ép buộc Ares phải liên lạc thường xuyên với Saigon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Ðúng 9 giờ sáng ngày 8 tháng Tám, Saigon nhận được điện văn của Ares sau gần hai tháng mất liên lạc. Với sĩ-quan an-ninh Bắc Việt bên cạnh, người điệp viên cắt nghĩa về sự vắng mặt của mình. Mẹ và em gái anh ta không đủ tiền nạp thuế nông nghiệp, do đó anh ta phải lánh mặt lên Hà-Nội tạm thời. Saigon tạm tin vào những điều báo cáo của Ares và đồng ý gửi tiếp tế cho Ares theo lời yêu-cầu của anh ta. Chiếc Nautilus I lại rời Ðà-Nẵng ngày 12 tháng  Giêng năm 1962 đem đồ tiếp tế cho Ares. Chiếc này đến vịnh Hạ-Long không gặp trở ngại, sau đó tự nhiên mất liên lạc vô tuyến một cách bí mật. Phòng 45 lo ngại cho số phận chiếc Nautilus I cùng với thủy thủ đoàn, mặc dầu có sự nghi ngờ điệp viên Ares... &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có lẽ chiếc tầu gặp tầu tuần duyên của Bắc Việt khi đến gần bãi biển. Phòng 45 cho đóng chiếc tầu khác lấy tên là Nautilus 2. Chiếc này sẵng sàng vào tháng Tư cùng với thủy thủ đoàn tuyển mộ từ những người Bắc di cư và huấn luyện tại Ðà-Nẵng.  Ngày 11 tháng Tư, chiếc Nautilus 2 rời Ðà-Nẵng ra Bắc hướng về vịnh Hạ-Long. Hai ngày sau ra đến ngoài khơi Quảng-Ninh. Sáu người trong nhóm mười bốn thủy thủ đoàn, xuống xuồng cao-su chở theo đồ tiếp vận cho Ares gồm bẩy hộp thiếc, và hai mươi ba hộp carton bọc trong bao plastic. Họ chèo xuồng đến một đảo nhỏ trong vịnh Hạ-Long, chất hàng lên đảo và lấy cây che đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi chiếc Nautilus 2 về đến Ðà-Nẵng an toàn, phòng 45 ăn mừng sự thành công của chuyến tiếp tế đầu tiên cho điệp viên Ares. Sau đó ngày 2 tháng Năm, họ gửi tín hiệu chỉ chỗ dấu hàng cho điệp viên Ares. Ít lâu sau,&lt;br /&gt;Ares báo cáo đã thâu hồi đồ tiếp vận kể cả máy truyền tin cùng với máy chụp ảnh 35mm. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tài liệu 'How America Lost the Secret War in North VietNam', tác giả Kenneth Conboy, Dale Andradé. United Press 2000.&lt;br /&gt;Carrollton, ngày 10 tháng Ba năm 2001&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-5840630196016692195?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/5840630196016692195/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=5840630196016692195' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/5840630196016692195'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/5840630196016692195'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/chien-tranh-ngoai-le.html' title='Chiến Tranh Ngoại Lệ / Trận Chiến Bí mật'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkpjJ4e6YaI/AAAAAAAAEgI/fp4MrRWWMWQ/s72-c/C123SOG.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-1736514457945977344</id><published>2009-06-30T14:36:00.003-07:00</published><updated>2009-12-03T18:00:27.847-08:00</updated><title type='text'>Chiến Tranh Ngoại Lệ 2 / Điệp Vụ tại Bắc Việt</title><content type='html'>&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkqGIlUWd5I/AAAAAAAAEhA/xHxLS0SIqvg/s1600-h/File1016Bietcongboiting05.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 100px; height: 240px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkqGIlUWd5I/AAAAAAAAEhA/xHxLS0SIqvg/s400/File1016Bietcongboiting05.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353238589097801618" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Mặc dầu thành công với điệp viên Ares (chuyên xẩy ra như thế nào vẫn chưa rõ), hồ sơ về những điệp viên đơn-độc (singleton) không được tốt đẹp lắm. Trong tháng Chín năm 1961, điệp viên thứ ba của phòng 45 bí danh Hero xâm nhập bằng đường biển, trở về liên lạc với gia đình bị thất bại. Chuyện này không thành công và  phòng 45 phải thâu hồi ngay tức khắc. Cũng trong tháng đó, điệp viên Hirondelle (bài 1) xâm nhập trở lại vùng Hà- Tĩnh bằng đường biển. Lần ra đi này, anh ta biến mất. Trong năm 1962, danh sách các điệp viên đơn độc bị mất tích gia tăng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một điệp viên bí danh Triton, xâm nhập vào Hà-Tĩnh bằng tầu biển trong tháng Năm cũng biến mất không tìm ra manh mối. Cuối tháng đó, một điệp viên khác bí danh Athena xâm nhập cũng trong vùng biển Hà- Tĩnh. Người điệp viên đó chính là Ðặng-Chí-Bình (rất nổi tiếng trong giới người Việt hải ngoại qua bộ hồi ký ThépÐen), Athena bị bắt sau khi thi hành công tác ở Hà-Nội. Ðến năm 1963, chuyện gửi điệp viên nằm vùng dài hạn trong một xã hội kiểm soát quá chặt chẽ như ở miền Bắc rất khó khăn. Ngoại trừ Ares, bốn điệp viên khác xâm nhập bằng đường biển bị mất tích coi như đã chết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay cả chuyện bơi qua sông Bến Hải như Hirondelle đã làm trước đây cũng trở nên gay-go  Nguy hiểm. Ðiệp viên bí danh Wolf  xâm nhập  qua vùng phi quân sự bị mất tích trong tháng Hai năm 1963. Mùa Hè 1963, phòng 45 chuẩn bị tái tiếp tế cho điệp viên Ares, họ hy vọng cũng sẽ thành công như năm trước. Ngày 11 tháng Tám, tầu rời Ðà-Nẵng. Hai hôm sau đến vịnh Hạ-Long, sáu người trên tầu xuống xuồng cao-su bơi xuồng vào bờ biển. Họ biến mất không quay trở lại, phần còn lại trên tầu hốt hoảng khi trông thấy tầu tuần tiễu Bắc Việt xuất hiện, họ dông một mạch tuốt về Ðà-Nẵng. Một lần nữa điệp viên Ares bị nghi ngờ. Cơ-quan CIA và phòng 45 đã bắt đầu phác hoạ kế hoạch xâm nhập miền Bắc bằng phương tiẹân thả dù từ năm 1961.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thiếu-úy Lò-Ngân- Dung một sĩ-quan gốc người dân tộc Thổ vùng Lao-Cai Bắc Việt bí danh Jacques được phép tuyển mộ biệt kích lấy ra từ liên-đoàn Quan-Sát số 1. Ðơn vị này gồm đa số quân nhân quê quán nơi miền Bắc, những quân nhân sắc tộc Tày, Mường, Nùng tình nguyện từ những binh chủng thuộc QL/VNCH. Jacques lập toán đầu tiên gồm ba người Mường và một người Nùng. Bốn quân nhân thiểu số được đưa về sống nơi nhà an-toàn trong Saigon. Họ được huấn luyện xử dụng máy truyền tin. Họ đã có bằng nhẩy-dù và tác chiến trong rừng từ liên-đoàn Quan-Sát số 1. Không như điệp viên Ares, phải xâm nhập vào xã hội miền Bắc, bốn quân nhân Biệt-Kích được huấn luyện sống biệt lập trong rừng núi. Sau ba tháng họ thụ huấn xong chương trình huấn luyện. Khi toán biệt-kích đầu tiên đã sẵn sàng, cơ-quan CIA phải quyết định tìm phương tiện hàng-không để thả dù toán biệt-kích xuống miền Bắc. Phương thức này đòi hỏi sự bảo-đảm và chối cãi được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước đây CIA đã xử dụng nhiều loại phi cơ thả dù xuống Hoa Lục. Hãng hàng không của CIA là Air America đã được biết đến về những hoạt động trên đất Ai-Lao nên không thể xử dụng được (địch đã biết). Chỉ còn lại những phi công nam Việt-Nam trong Không- Lực VNCH có đủ khả năng để bay. Phi-đoàn này cũng phải được ngụy trang để có thể chối cãi. Cơ-quan CIA dựng nên hãng hàng không liên oanh Delaware Corporation&lt;br /&gt;và Việt-Nam lấy tên là Việt- Nam Không-Vận (VIAT). Họ chỉ có một chiếc báy bay vận tải C-47 không có phù-hiệu đơn vị. Về phi-công, CIA tìm đến thiếu-tá Nguyễn-Cao-kỳ chỉ huy trưởng căn cứ không quân Tân-Sơn-Nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Kỳ tuyển mộ phi-công tình nguyện từ hai phi đoàn vận tải. Phi-đoàn mới do chính ông ta chỉ huy mang mật hiệu là Haylift. Những phi công trong đơn vị mới này đòi hỏi phải bay những phi vụ thả dù đêm, bay với cao độ thấp đến điạ điểm thả dù. Sau thời gian huấn luyện, chỉ còn lại phi hành đoàn năm người do thiếu-tá Kỳ chỉ huy và phi hành đoàn thứ hai (dự bị) do Trung-úy Phan-Thanh-Vân chỉ huy. Toán biệt-kích có bí danh Castor dựa trong thần-thọai Hy-Lạp là vị thần đã giúp đỡ Hercules. Thêm một sự trùng hợp khác, Castor là tên cuộc hành quân trong năm 1953 quân Pháp nhẩy dù xuống Ðiện-Biên-Phủ. Toán Castor sẽ phải hoạt động trong một hoàn cảnh khó khăn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi khám phá ra chiếc xuồng của điệp viên Ares trong tháng Hai, Hà-Nội đã để-ý. Ngày 1 tháng Ba, đảng cộng-sản Việt- Nam bí mật ban hành lệnh tăng cường cho lực lượng anninh chống điệp viên xâm nhập. Toán Castor dự trù sẽ lên đường ngày 27 tháng Năm, trăng tròn, thời tiết lý tưởng. Không như đơn vị Biệt-Hải, xâm nhập vào những đêm không trăng. Các phi công cần ánh sáng mặt trăng để bay, thường chỉ có bốn đêm trong một tháng. Các quân nhân biệt-kích cũng cần một độ sáng để điều khiển dù xuống bãi đáp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như đã chuẩn bị, bốn biệt kích quân trong toán Castor, lên chiếc C-47 không phù hiệu đậu trong phi trường Tân- Sơn-Nhất. Người ngồi ghế lái máy bay chính là thiếu tá Kỳ, tất cả phi hành đoàn đều không đeo phù hiệu, không mang theo tất cả mọi thứ giấy tờ. Trường hợp bị rớt trên miền Bắc, vỏ bọc ngoài của họ là thường dân đi buôn lậu. Mỗi người đem theo một trăm đô-la đề phòng trường hợp cần tẩu thoát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiếc máy bay chở toán Castor ghé Ðà-Nẵng lấy thêm nhiên liệu. Ðúng 10 giờ đêm, ông Kỳ cất cánh bay ra vịnh Bắc Bộ (Tonkin) về hướng tỉnh Ninh-Bình. Sau đó bay theo hướng tây bắc qua Hòa Bình rồi đến Sơn-La. Băng qua sông Ðà, dưới là ngọn đồi 828. Ông Kỳ bật đèn xanh, toán thả dù đẩy thùng đồ tiếp vận ra phiá cửa sau, toán biệt kích Castor nhẩy theo. Chiếc C-47 vòng lại và hướng về miền nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên đồi 885, trung-sĩ Hà- Văn-Chấp trưởng toán Castor, tháo dù và tập họp toán viên. Họ xuống ngọn đồi cách một làng gần đó chừng một cây số. Chín cây số về hướng nam là sông Ðà, thêm mười cây số nữa là đường số 6. Ðường 6 là một con đường chính, băng qua các tỉnh lân cận xuống tây nam đến thị trấn Sầm-Nứa trên đất Lào. Chính quyền của tổng thống Kennedy tin rằng Sầm-Nứa là đất dụng võ của quân cộng-sản. Toán Castor sẽ cung cấp tin tức về sự chuyển quân của địch trên đường số 6, đó là nhiệm vụ chính của toán Castor.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi toán Castor nhẩy xuống đồi 885, dân làng gần đó nghe tiếng động cơ máy bay và báo cáo cho lực-lượng Công-An Vũ-Trang Nhân-Dân. Sáng ngày 28, họ đã đoán được địa điểm nhẩy dù của toán biệt kích đêm qua. Công-an đến bao vây xung quanh đồi 885 và ba hôm sau họ bắt được bốn biệt kích trong toán Castor.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phòng 45 vẫn chưa hay chuyện xẩy ra cho toán Castor, tiếp tục chương trình thả thêm những toán biệt kích khác. Ngày 2 tháng Sáu, toán thứ hai Echo gồm ba người phát xuất từ Ðà-Nẵng trên chiếc VIAT C-47 bay ra Bắc. Chiếc máy bay vòng qua vĩ tuyến 17, vào đến không phận tỉnh Quảng-Bình. Toán Echo nhẩy dù xuống vùng rừng núi nơi phiá bắc làng Trúc chừng năm cây số. Không còn gì xui hơn, khi toán biệt kích ra khỏi phi cơ đúng vào lúc hai làng ở phiá dưới đang có những buổi hội thảo. Nghe tiếng máy bay, họ ùa ra xem, nhìn rõ chiếc C-47 trên bầu trời sáng trăng. Tiếng đồng hồ sau, địch đã tổ chức xong cuộc truy kích gồm cả chó săn, công an và một đại đội lính điạ phương. Chuyện rủi ro đến với toán Echo ngay từ lúc đầu. Một biệt kích bị trôi dạt đi chừng ba cây số vướng trên một rừng cây, anh ta cắt dây dù, rơi xuống gay chân. Hai người còn lại biết bị lộ, báo cáo về Saigon cho biết tình hình và định chạy về phiá biên giới Việt-Lào để thoát thân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi họ bắt đầu thực hiện ý-định, địch đã bao vây khu rừng, cả ba biệt kích quân bị bắt vào ngày hôm sau. Mười hai ngày sau, toán thứ  ba Dido gồm bốn người sắc tộc Thái Ðen rời Ðà-Nẵng, mục tiêu hoạt động của họ là vùng dân tộc Thái Ðen. Lai Châu nằm về hướng tây bắc. Họ nhẩy dù xuống gần đường số 6, khoảng giữa tỉnh-lỵ và con đường đến làng Tuần- Giao. Toán Dido sẽ dò thám xe cộ của địch đến Tuần-Giao mà một nhánh sẽ đi về thung lũng Ðiện-Biên-Phủ và qua Lào. Vùng thung lũng do sư đoàn 316 đóng quân.  Thiếu-tá Kỳ từ vùng vịnh Bắc-Bộ lái vòng theo những tỉnh cực bắc, thả truyền đơn trên không phận tỉnh Cao- Bằng gần biên giới Hoa-Việt. Ðến địa điểm thả dù trong tỉnh Lai-Châu, bốn biệt kích quân toán Dido nhẩy ra và chiếc C-47 theo lộ trình thả toán Castor trước đây quay trở về miền nam an toàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên bãi đáp bốn biệt kích tháo dù đem dấu rồi tập họp. Thùng đồ tiếp liệu của họ trong đó có quần áo, long thực, đạn dược, máy truyền tin trôi lạc mất, tìm không ra. Sau ba tuần lễ, bị đói, toán Dido đụng phải công an biên phòng trên đường di chuyển qua Lào, họ bị bắt gần biên giới. Ðến tuần lễ thứ hai trong tháng Bảy, Hà-Nội đã name trong tay ba toán biệt kích. Họ biết rõ, sau khi thả toán biệt kích, ít lâu sau phải thả dù tiếp tế cho biệt kích. Ðịch quân ép buộc hoặc thuyết phục hiệu thính viên biệt kích làm việc với họ báo cáo về Saigon là toán vẫn an toàn. Kết quả miền bắc lấy được đồ tiếp liệu cho các toán biệt kích bị bắt và tóm luôn những toán sẽ được thả trong tương lai.&lt;br /&gt;Ðúng 12 giờ trưa ngày 29 tháng Sáu, hơn một tháng sau khi xâm nhập, toán Castor gửi đi bức điện văn đầu tiên, họ được Saigon khuyến khích và hưá sẽ thả dù tiếp tế trong vòng bốn ngày. Chiều ngày 1 tháng Bảy, đồ tiếp liệu được chất lên chiếc C-47 bí mật trong phi trường Tân-Sơn- Nhất. Ðúng ra thiếu ta Kỳ lái chuyến này, nhưng giờ chót  ông giao trách nhiệm cho trung-úy Phan Thanh Vân. Trên máy bay có thêm ba hạsĩ- quan thuộc liên-đoàn Quan Sát số 1, đi theo phụ giúp việc đẩy thùng tiếp liệu ra khỏi phi cơ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiều hôm đó, sau khi lấy thêm nhiên liệu trong phi trường ngoài Ðà-Nẵng, chiếc C-47 bay theo phi trình thả toán Castor và Dido. Trên bãi thả, công an vũ-trang đã bao vây, đợi chuyến thả tiếp tế cho toán Castor. Nơi Hòn Ne cách bờ biển Ninh Bình chừng sáu cây số, công an, quân đội nghe tiếng động cơ máy bay. Chiếc C-47 như thường lệ bay thấp để tránh radar, bị súng cao xạ từ Hòn Ne bắn lên trúng đạn và rớt xuống một bãi ruộng chừng hai mươi cây số trên đất liền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kenneth Conboy, Dale Andrade, United Press, 2000.&lt;br /&gt;Bạch-Hổ&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-1736514457945977344?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/1736514457945977344/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=1736514457945977344' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/1736514457945977344'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/1736514457945977344'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/chien-tranh-ngoai-le-2.html' title='Chiến Tranh Ngoại Lệ 2 / Điệp Vụ tại Bắc Việt'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkqGIlUWd5I/AAAAAAAAEhA/xHxLS0SIqvg/s72-c/File1016Bietcongboiting05.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-218001868495293498</id><published>2009-06-30T14:36:00.001-07:00</published><updated>2009-12-03T18:03:21.395-08:00</updated><title type='text'>Chiến Tranh Ngoại Lệ 3</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Skv6zLkgwfI/AAAAAAAAEhk/IosZ8tyfiYQ/s1600-h/t_Extraction_from_Laos.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 283px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Skv6zLkgwfI/AAAAAAAAEhk/IosZ8tyfiYQ/s400/t_Extraction_from_Laos.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353648339246170610" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau vụ bắn rơi chiếc C47, bắt sống bẩy người trong đó có phi công PhanThanh-Vân, Hà-Nội lỡ đã công bố trên đài phát thanh, báo chí nên không thể dấu diếm. Ít ra viên phi công hoặc cả bẩy quân nhân biết rằng phi vụ của họ là tái tiếp tế cho toán biệt kích Castor. Nếu họ khai trước tòa án, Bắc Việt biết rằng có toán biệt-kích hoạt động trong tỉnh Sơn-La. Ðồng thời Saigon biết toán Castor đã bị bắt. Tuy nhiên Hà-Nội dựng nên một chuyện khác, chỉ có ba người bị đưa ra tòa án trong tháng Mười Một, bốn quân nhân khác đã chết vì vết thương. Trước tòa cả ba nhận tội có liên quan đến vấn đề biệt-kích... và trên đường đến tỉnh Hòa Bình chứ không phải Sơn-La. Ðến cuối năm, CIA và Saigon vẫn tin rằng toán biệt kích Castor vẫn còn hoạt động hữu-hiệu. Trong Saigon, trung-tá Tung cảm thấy hài lòng, chuẩn bị thả thêm biệt kích ra ngoài bắc. Bây giờ cơ quan CIA phải tìm phương tiện khác&lt;br /&gt;(chiếc C-47 duy nhất dã bị bắn rơi). Họ không thích loại phi cơ C-47 với hai lý-do, chiếc C-47 tầm hoạt động ngắn do đó chiếc máy bay phải bay thẳng đến mục tiêu. Thứ hai, máy bay phải lấy thêm nhiên liệu ngoài Ðà-Nẵng, biết đâu điệp viên Bắc Việt đã xâm nhập vào trong phi trường Ðà-Nẵng? Cuối cùng họ chọn máy bay C-54 và huấn luyện hoa tiêu Việt-Nam, các phi công tình nguyện hoàn tất khoá huấn luyện đầu năm 1962.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phòng 45 chuẩn bị toán biệt kích Europa gồm năm quân nhân sắc tộc Mường. Ngày 20 tháng Hai họ phát xuất từ phi trường Tân Sơn Nhất do trung tá Nguyễn-Cao-Kỳ lái, không ghé Ðà-Nẵng như những phi vụ trước đây. Khi vào đến không phận tỉnh Hòa-Bình nơi có nhiều dân tộc Mường, đến bãi thả dù, ông Kỳ bật đèn xanh và năm biệt-kích Mường biết mất vào màn đêm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðịa điểm thả toán biệt kích Europa trong quận Tân-Lạc là điều không nên (bad choice). Ðường số 6 chạy xuyên qua giữa quận, có nhiều đường nhỏ đi vào và nhiều làng mạc. Một lần nữa toán biệt kích bị lộ lúc đang nhẩy dù xuống bãi đáp. Sáng hôm sau, công an vũ trang phối hợp với tự vệ, khoá sinh đang thụ huấn biên phòng, truy lùng toán biệt kích. Tất cả bị bắt ngày hôm sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hiệu thính viên toán Europa bị ép buộc gửi báo cáo về Saigon, toán đã đến mục tiêu an toàn. Phòng 45 phấn khởi, chuẩn bị tái tiếp tế cho toán Castor, lúc đó đã nằm vùng gần mười tháng. Họ hy vọng rằng với loại máy bay C-54 mới, lần này sẽ gặp may. Chuyến đi này do đại-úy Hội lái, chiếc C-54 bí mật chở đồ tiếp liệu cất cánh từ Tân Sơn Nhất bay đi Sơn-La. Trước khi đến mục tiêu, chuyện xui-xẻo lại xẩy ra, gặp một cơn giông lớn, chiếc máy bay đâm vào núi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong Saigon, mấy tay Xiạ (CIA) trong ban kế hoạch hết sức mất-mặt, mất hai máy baytrong vòng bẩy tháng. Ðiều hơi mừng là điện văn bắt được của Hà-Nội cho biết do lỗi lầm của viên phi công gây nên tai nạn và họ không để-ý đến chuyện mất mát đó (?). Cũng vì vậy ban tham mưu trong Saigon vẫn còn tin tưởng nơi toán biệt kích Castor (vẫn còn hoạt động).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cơ-quan CIA lại phải tìm chiếc máy bay khác. Lần nàyhọ liên lạc với Ðài-Loan với kinh nghiệm thả điệp viên xâm nhập Hoa-Lục từ năm1952. Nhiều hoa tiêu Ðài Loan tình nguyện bay những phi vụ bí mật xâm nhập Bắc Việt. CIA cũng xắp xếp cho phi công từ Air-America (CIA) qua Ðài Loan huấn luyện những phi công tình nguyện về kỹ thuật bay ở cao độ thấp. Trong khi huấn luyện cho phi công Ðài-Loan, CIA và phòng 45 chuẩn bị cho toán biệt kích kế tiếp. Toán mới này có mật hiệu là Atlas gồm bốn người quê-quán trong tỉnh Nghệ-An, cả bốn được đưa vào trú trong nhà an-toàn nơi Saigon để huấn luyện. Toán Atlas có nhiệm vụ xâm nhập tỉnh Nghệ-An gần đường số 7. Cũng như toán Echo trước đây, họ sẽ dò thám mức độ di chuyển của địch qua đất Lào và bắt liên lạc với hai linh mục công-giáo, nhờ giúp đỡ che chở.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong tuần lễ đầu tiên trong tháng Ba năm 1962, toán Atlas được đưa qua Thái-Lan. Các phi công Tầu vẫn chưa xong khóa huấn luyện nên CIA xử dụng trực thăng của Air-America đưa toán biệt kích đến biên giới Lào và Nghệ-An, và toán sẽ di chuyển bộ đến mục tiêu. Xế chiều ngày 12 tháng Ba, toán Atlas lên đường cùng với đồ tiếp liệu trên hai chiếc trực thăng H-34, thêm một chiếc hộ tống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo máy bay hướng dẫn, trực thăng thả toán biệt-kích lúc trời sắp tối trên một ngọn núi sát biên giới. Toán Atlas mặc bà-ba đen, võ trang tiểu liên Stern (theo tiêu chuẩn CIA, dùng đồ không phải của Hoa-Kỳ). Sau ba ngày di chuyển về hướng đông (Nghệ-An, Việt-Nam) không gặp trở ngại, đến ngày thứ tư họ gặp một trẻ em. Theo lời một toán viên kể lại 'Ðứa bé biến vào rừng nhanh như chớp!'. Sau đó đơn vị an ninh đến bao vây toán Atlas, một người trúng đạn chết. Trên đường chạy trở lại qua đất Lào, thêm một người nữa dẫm phải mìn chết. Còn lại hai người, gọi máy báo cáo không được vì thời tiết xấu, cuối cùng cả hai bị bắt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rút kinh nghiệm, CIA tiếp tục thả biệt kích ra ngoài bắc. Lần này xử dụng phi cơ C-46 phát xuất từ căn cứ không quân Takhli bên Thái-Lan, họ được đại-úy Ron Sutphine cùng với đại-úy M. D. 'Doc'  Johnson bay trước hướng dẫn vào bãi thả dù. Toán kế tiếp là toán Remus gồm sáu ngườisắc tộc Thái Ðen. Cũng như toán Dido gồm những quânnhân sắc tộc Thái Ðen trước đây, toán Remus sẽ nhẩy xuống vùng thung-lũng Ðiện Biên-Phủ trong tỉnh Lai-Châu. Không phải vì là căn cứ quânsự&lt;br /&gt;lớn nhất trong vùng tâybắc, cùng với sự hiện diện của sư-đoàn 316, ngoài ra sư đoàn này thường có những hoạt động trên đất Lào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán Remus đề phòng bị lộ, sẽ nhẩy dù xuống khu vực gần biên giới rồi xâm nhập bằng đường bộ đến mục tiêu. Ngày 16 tháng Tư, sáu biệt-kíchnhẩy dù xuống cách ÐiệnBiên-Phủ mười lăm cây số về hướng tây bắc an toàn. Toán Remus gom lại và năm hôm sau, báo cáo về Saigon họ bắt đầu vượt biên giới xâm nhập vào miền bắc. Sau khi thả toán Remus thành công, phòng 45 quay trở lại làm việc với toán đầu tiên Castor. Cuối tháng Tư, toán Castor được lệnh di chuyển từsông Ðà về phiá nam đến quân Mộc-Châu. Tại đó toán sẽ nhận đồ tiếp liệu mới cùng với toán Tourbillon xuống tăng cường. Không như những toán trước đây, toán Toubillon gồm bốn sắc tộc khác nhau trong đó ít nhất hai người không phải sắc dân thiểu số. Nhiệm vụ cho toán Tourbillon cũng khác, không phải thâu thập tin tức mà đột-kích, tấn công chớp nhoáng phá hoại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Năm trước đó, tổng thống Kennedy đã nhiều lần ra lệnh cho các giới chức lãnh đạo Hoa-Kỳ, cho các toán biệt kích hoạt động nơi miền Bắc thêm công-tác phá hoại. Tình hình bên Lào trở nên bết, thành phố Nam-Tha bị quân cộng-sản Pathet Lào chiếm với sự hổ trợ của vài tiểu đoàn Bắc Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán Tourbillon sẽ nhẩy dù xuống những ngọn đồi nơi phiá bắc quận Môc-Châu rồi di chuyển sáu cây số về hướng nam tới đường số 6. Toán biệt kích sẽ phá sập mấy cây cầu trên đường số 6, ngăn chặn đường tiếp vận của BắcViệt từ Ðiện-Biên-Phủ quaLào. Ðiều này sẽ làm cản trở sự giúp đỡ quân cộng sản Pathet Lào, áp lực bên Lào sẽ nhẹ đi. Trước đây Lansdale đã phát biểu, nằm vùng trong một xãhội quản chế nghiêm khắc đã khó, chuyện phá hoại kể như quá khó khăn cho những quân nhân biệt kích trẻ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phòng 45 tiếp tục tuyển mộ tình nguyện quân trong liên-đoàn Quan-Sát số 1 bấy giờ đã đổi tên thành liên-đoàn 77. Bẩy người được chọn, tất cả đã qua lớp huấn luyện nhẩy-dù và biệtđộng, người hiệu thính viên cũng đã có kinh nghiệm vượt biên qua Lào hai lần. Ðến tháng Năm, quân-đội Hoàng-Gia Ai-Lao đang bại trận, trước khi quân cộng sản tấn công Nam-Tha. Toán Tourbillon ra đi bốn lần đều phải quay trở lại vì lý do thời tiết, vẫn nằm chờ trong phi trường Tân-Sơn-Nhất khi Nam-Tha thất thủ ngày 9 tháng Năm. Một tuần sau toán Tourbillon ra đi, trên máy baydo phi công Ðài-Loan lái, những phi công này bị bắt buộc để lại tất cả giấy tờ tùy thân trước khi lên máy bay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến điểm hẹn với toán Castor, các biệt kích Tourbillon nhẩy dù xuống không biết ở dưới ngoài toán Castor còn có thêm ít nhất một đại đội công-an vũ-trang cùng với chó săn. Hôm đó gió thổi mạnh, các biệt kích quân trôi dạt đi, đơn vị công-an đuổi theo. Người toán phó bị vướng trên một ngọn cây và bị bắn chết trên cây, các biệt kích quân khác chạy tìm lối thoát khi xuống tới đất, hai hôm sau tất cả đều bị bắt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhân viên truyền tin bị côlập ngay tức khắc, Bắc Việt ép buộc phải báo cáo xuống mục tiêu an toàn. Phòng 45 tin tưởng rằng bãi đáp đã được toán Castor an-ninh nên rất tin, mặc dầu sau mười một ngày bị điều tra, ép buộc người tín hiệu viên mới gủi đi bản báo cáo đầu tiên. Bốn hôm sau khi toán Tourbillon nhẩy dù xuống Mộc-Châu, toán biệt-kích kế tiếp mật hiệu Eros lên phi cơ C-54 trong phi trường TânSơn-Nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyến đi này, phi công bay theo đường vòng qua đất Lào, xâm nhập không&lt;br /&gt;phận tỉnh Thanh-Hóa thả toán biệt-kích chớp nhoáng rồi bay về. Vấn đề xẩy ra quá nhanh, quân Bắc Việt chưa đề phòng, chuyến xâm nhập coi như thành công. Xuống tới đất, toán Eros gom lại an toàn, Họ gồm năm người thuộc sắc tộc Mường và Thái Ðỏ, cả hai sắc dân thiểu số đều sống nơi phiá tây tỉnh Thanh-Hoá. Toán này có điều lạ, trong ba người Mường, hai người là anh em, người thứ ba là anh em họ. Hai người Thái là chú cháu. Phòng 45 hy vọng sợi giây liên hệ sẽ làm toán gắn bó và họ dễ móc nối những người cùng sắc tộc với họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau ba tuần lễ trong rừng, vài người Thái trông thấy toán biệt kích. Hốt hoảng, toán Eros chạy lên hướng bắc. Mấy người Thái quay trở lại tìm thấy mấy lon đồ hộp lạ, không phải sản-xuất ở miền Bắc. Họ bèn báo cáo chuyện xẩy ra lên công-an điạ phương. Trong khi đó toán Eros trên đường chạy đã gần hết lương thực, Saigon trả lời vì thời tiết xấu, chưa tiếp tế được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các biệt kích quân phải tìm đồ ăn cho họ. Ngày 2 tháng Tám, một lần nữa họ bị dân làng phát giác và cuộc truy lùng tiếp diễn. Lần này phòng 45 nhận được công điện khẩn của toán Eros rằng đang bị truy lùng. Ngày 29 tháng Chín, toán biệt-kích bị bao vây, một người trúng đạn chết, một bị bắt. Ba người kia chạy thoát nhập vào mấy người Lào đi săn bắn. Họ bị phản bội, bắt sống giao nộp cho quân Bắc Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kenneth Conboy, Dale Andradé, United Press&lt;br /&gt;Bạch-Hổ &lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-218001868495293498?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/218001868495293498/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=218001868495293498' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/218001868495293498'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/218001868495293498'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/chien-tranh-ngoai-le-3.html' title='Chiến Tranh Ngoại Lệ 3'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Skv6zLkgwfI/AAAAAAAAEhk/IosZ8tyfiYQ/s72-c/t_Extraction_from_Laos.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-4670886872278112483</id><published>2009-06-30T14:35:00.002-07:00</published><updated>2009-12-02T22:15:08.553-08:00</updated><title type='text'>Chiến Tranh Ngoại Lệ 4</title><content type='html'>&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Skv-h1erlpI/AAAAAAAAEhs/nFpIrWF3s4c/s1600-h/SPVDH23.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 221px; height: 221px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Skv-h1erlpI/AAAAAAAAEhs/nFpIrWF3s4c/s400/SPVDH23.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353652439304869522" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Khi mặt trời nhô lên ngoài khơi vịnh Bắc Phần, đoàn tầu túa ra biển đông, đi đánh cá gần miệngsông Gianh cách Đồng Hới tỉnh cực nam của miền Bắc khoảng bốn mươi cây số. Từ biển đi sâu vào sông Gianh khoảng chừng cây số có căncứ hải-quân Quảng-Khê. Đây cũng là nơi phát xuất của lực lượng Phòng-Vệ Duyên-Hải Bắc Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 16 tháng Năm năm 1962, khung cảnh có vẻ như bình thường. Không ai biết dưới mặt nước biển, có một chiếc tầu ngầm đang dò thám ngoài khơi, chiếc tầu tên Catfish của hải-quân Hoa-Kỳ. Chiếc tầu ngầm này đã hoạt động nhiều năm trong vùng biển Tầu, Việt-Nam. Lần này chiếc Catfish để ý những chiếc tốc đỉnh võ-trang Swatow của miền Bắc. Chiếc Swatow dài 83 bộ (feet), trang bị ba đại bác 37 ly, thêm hai khẩu 14,5 ly hai nòng. Với ba mươi thủy thủ đoàn, chiếc Swatow có thể chạy với tốc độ hai mươi tám knots mỗi giờ, trang bị thêm radar tìm những chiếc tầu vượt tuyến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Được biết trong căn cứ có ba chiếc Swatow đang bỏ neo, chiếc tầu ngầm Catfish xác định tin tức và báo cáo về Manila, Phi-Luật-tân rồi đến văn phòng CIA tại Saigon. Cơ quan này liền phác hoạ kế hoạch cho biệt-hải phá hủy mấy chiếc tốc đỉnh của hải quân Bắc Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong tháng Tư 1962, phòng 45 lập toán bốn cảm-tử quânngười nhái do Đài-Loan huấn luyện, biệt danh Vulcan. Họđược đưa đến Đà-Nẵng huấn luyện cách đặt mìn phá tầu. Sau khi được xác định mục tiêu (do Catfish), toán người nhái Vulcan cùng với mười thủy thủ lên chiếc Nautilus 2, hướng ra hải phận miền bắc. Chiếc Nautilus 2 thả neo ngoài khơi trước cửa miệng sông Gianh, để cho bốn cảm tử quân chèo xuồng vào bờ thám thính. Bốn người này quay trở về báo cáo, rất yênlặng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đại-úy Hà-Ngọc-Oanh bí danh Antoine đã phục vụ hai năm trong phòng 45, nhận lệnh cho tấn công những chiếc tốc đỉnh Swatow ngày 28 tháng Sáu. Trong phần thuyết trình hành quân, có thêm hai nhân viên CIA với ảnh chụp căn cứ hải-quân Quảng-Khê.Đại-úy Oanh trình bầy kế hoạch đi, tấn công và đường rút lui cho các cảm tử quân nghe.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo kế hoạch, các cảm tử quân từ chiếc Nautilus 2 xuống xuồng gỗ chèo vào bờ theo cửa sông Gianh. Vì chỉ có ba chiếc Swatow trong bến, người nhái thứ tư là Nguyễn-Chuyên ở lại giữ xuồng và làm trừ bị. Ba cảm tử quân trong bộ đồ người nhái sẽ bơi vào bờ gắn mìn ba chiếc Swatow rồi rút êm. Sau đó mọi người ăn nhậu tiễn đưa đến khuya, rồi những người đi công tác được đưa vào khu cấm riêng biệt để bảo toàn bí mật.&lt;br /&gt;Đúng 8:30 tối ngày 29 tháng Sáu, toán biệt hải lên tầu ra đi. Đến đêm hôm sau họ nằm ngoài khơi hải phận miền Bắc, và tiến tới mục tiêu. Trước nửa đêm ngày 30, chiếc Nautilus 2 tắt cả hai máy, hạ chiếc xuồng gỗ gắn động cơ xuống nước. Các cảm tử quân trèo xuống lặng lẽ cho xuồng chạy vào bờ. Mười lăm phút sau, Lê-Văn-Kính có thể thấy cửa miệng sông Gianh. Toán người nhái dự trù sẽ thi hành xong công tác trong vòng hai tiếng đồng hồ, đủ thì giờ bơi vào, đặt mìn rồi bơi trở lại xuồng. Kính kéo kính che mắt xuống rồi tụt xuống nước, người nhái cuối cùng xuống nước là Nguyễn-Hữu-Thao. Trên bong chiếc Swatow 185, nhân viên canh gác nghe tiếng&lt;br /&gt;động do chân vit quạt vào nước. Tiếp theo là hạm-trưởng Hồ-Ngọc-Minh dẫn mấy&lt;br /&gt;thủy-thủ chạy xuống cuối thân tầu quan sát. Dưới nước Nguyễn-Hữu-Thao đang gắn&lt;br /&gt;quả mìn dưới lườn tầu. Nghe tiếng chân người chạy trên bong, anh ta hốt hoảng, xẩy&lt;br /&gt;tay và quả mìn phát nổ, Thao chết ngay tức khắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kính đã đặt xong quả mìn, anh bơi ra xa khỏi chiếc Swatow chừng hai mươi&lt;br /&gt;thước, trồi lên khỏi mặt nước đúng lúc quả mìn của Thao phát nổ. Sức nổ làm anh ta tức ngực, chân tê đi, trôi dật dờ trên mặt nước. Kính trông thấy chiếc Swatow bị hư hại nặng, và biết rằng lính Bắc Việt sẽ tràn ra đầy căn cứ trong giây lát. Kính ráng bơi vào bờ sông rồi chui vào bãi sậy nằm trốn, anh hy vọng khi êm xuôi sẽ tìm cách bơi vào miền nam. Chuyện đó không xẩy ra lâu, lính Bắc Việt tìm thấy anh ta và lôi lên từ bãi sậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài xuồng đợi, Nguyễn Chuyên cùng hai người lái xuồng hoảng hốt trông thấy&lt;br /&gt;quả mìn nổ. Quân Bắc Việt trông thấy chiếc xuồng nhỏ đợi ngoài xa họ cho tầu đuổi&lt;br /&gt;theo, chiếc xuồng nhỏ chạy ra khơi hướng về chiếc Nautilus 2. Khi đến được chiếc&lt;br /&gt;Nautilus 2, Chuyên trúng đạn bị thương. Người nhái thứ ba Nguyễn-Văn-Tâm cũng không may cho lắm. Sau khi đặt mìn, anh bơi trở lại xuồng, rồi quả thứ nhất phát nổ, chiếc xuồng dọt mất và Tâm bị bỏ rơi. Tìm cách khác, anh bơi tìm một chiếc xuồng khác của thường dân, định chạy về miền nam. Khi leo lên tầu anh rơi vào tay lực&lt;br /&gt;lượng tự vệ điạ phương, địch đã báo động khắp nơi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Căn cứ hải quân Quảng-Khê nổ bùng lên, chiếc Swatow 185 chìm ngay. Trong lúc hỗn&lt;br /&gt;loạn, chiếc Swatow 161 chạy ra biển đuổi theo chiếc xuồng nhỏ đến chiếc Nautilus 2.&lt;br /&gt;Trên tầu Nautilus 2, thủy thủ ráng chống cự với đại liên rồi tháo chạy về hướng nam. Đến 6:00 giờ sáng, chiếc Nautilis 2 bị trúng đạn hư máy nằm chờ chết. Chiếc Swatow bắn chiếc Nautilus 2 tan tành, người nhái Nguyễn Chuyên thoát chết đợt đầu cũng hy sinh cùng với một thủy thủ. Sau khi chiếc Nautilus 2 chìm, mười người sống sót được chiếc Swatow vớt lên bắt làm tù binh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thêm một người nữa Nguyễn-Văn-Ngọc vẫn còn trốn trên chiếc tầu đang chìm, không ai hay biết. Sau khi chiếc Swatow đi khỏi, anh Ngọc trôi dật dờ qua vĩ tuyến mười bẩy và được phi cơ tuần tiễu trông thấy cứu sống. Ngày 21 tháng Bảy, Hà-Nội đưa toán biệt kích hải quân ra tòa, lần thứ hai họ xử án biệt kích. Có người bị tù chung thân. Bị thất bại, phải đến năm sau cơ quan CIA mới tổ chức lại được những trận đột kích phá hoại trong vịnh Bắc Bộ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến cuối mùa hè 1963, toán huấn luyện người nhái SEAL của hải-quân Hoa-Kỳ đã huấn luyện xong cho bốn toán biệthải Việt-Nam. Mỗi toán được tuyển mộ gồm dân sự và mấy hạ-sĩ-quan trong lục quân VNCH. Trong bốn toán, Neptune là toán người nhái, toán Cancer gồm toàn quân nhân sắc tộc thiểu số Nùng tuyển mộ từ sư-đoàn 5 bộ binh. Người tổ chức các toán biệt hải là Gougleman, ông ta yêu cầu được cung cấp loại tầu tốt hơn, chạy nhanh hơn, hỏa lực mạnh hơn để tránh chuyện thảm-hoạ xẩy ra như chiếc Nautilus 2 trong năm trước đây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do sự yêu cầu, hải quân Hoa-Kỳ bàn giao hai chiếc tầu tuần tiễu phóng thủy lôi&lt;br /&gt;PT-810, PT-811 cho đơn vị biệt hải (Marops / Maritime Operation/Hành quân biển).&lt;br /&gt;Hai chiếc này đến Đà-Nẵng được đổi tên là PTF-1, PTF-2. Trong khi đó cơ-quan CIA&lt;br /&gt;không đợi sự chấp thuận, đặt mua hai chiếc Nasty của Na-Uy đem về đặt tên là PTF-3, PTF-4. Thêm vấn đề nhân lực, cơ quan CIA thuê người Na-Uy để lái tầu vì người Hoa-Kỳ không được phép ra đến hải phận miền bắc. Ba thủy thủNa-Uy đến Đà Nẵng với công-tra sáu tháng, họ có biệt danh là Viking. Theo đại-úy Trương-Duy-Tài một sĩ quan trong đơn vị biệt-hải, người 'Viking' sống rất hợp với thủy thủ Việt-Nam và rất rành đi biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 15 tháng Mười Hai, một chiếc PTF hướng ra miền bắc, đem theo toán người nhái Neptune. Trước khi đến mục tiêu, chiếc tầu bị lạc hướngphải quay về Đà Nẵng, hủy bỏ chuyến công tác. Cơ quan CIA đợi qua năm mới, ngày 14 tháng Giêng năm 1964 thực hiện hai mục tiêu cùng lúc. Hai chiếc Swift rời bến chạy song song cho đến vĩ tuyến 17 tẽ ra, một chiếc hướng về nhà máy dọc theobãi biển gần Đồng-Hới. Chiếc thứ hai tiếp tục chạy thêm mười tám cây số tới sông Ron trong tỉnh Quảng Bình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán biệt hải tấn công Đồng Hới có biệt danh Zeus không gặp trở ngại. Họ đến đúng lúc mặt trời lặn, toán biệt hải chèo xuồng cao-su vào bờ. Trên bờ họ đặt dàn hoả tiễn&lt;br /&gt;nhỏ, đặt giờ nổ do CIA chế bìến hướng vào nhà máy rồi rút êm trở lại chiếc Swift.&lt;br /&gt;Trước khi quay về họ thả thêm mấy thùng truyền đơn đả phá chế độ cầm quyền&lt;br /&gt;ngoài Bắc xuống biển để sóng đánh trôi vào bờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán thứ hai biệt danh Charon không được may. Khi chiếc Swift còn cách mục tiêu chừng mười chín cây số, viên thuyền trưởng người Na-Uy trông thấy có chiếc tầu từ&lt;br /&gt;hướng bắc chạy về phiá ta. Chiếc Swift chạy quanh co để tránh cho đến khi mất bóng&lt;br /&gt;chiếc tầu lạ, rồi tiếp tục đến tục tiêu, họ đã chậm mất tiếng đồng hồ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi biểu quyết tiếp tục nhiệm vụ, người trưởng toán ra lệnh cho toán Charon xuống xuồng cao-su. Khi gần đến cửa sông Ron, các người nhái đi chân nhái rồi bơi vào. Một cặp hai người sẽ bơi vào bờ phiá bắc, cặp khác đến bờ phiá nam giòng sông. Một cặp bất ngờ gặp phải một chiếc tầu đi ra. Vì lòng sông cạn, nhiều sình. Hai người nhái sợ người trên tầu trông thấy vội vã bơi trở lại chiếc xuồng cao su đang đợi nơi cửa biển. Cặp người nhái thứ hai biến mất, không thấy trở lại. Vị thuyền trưởng Na-Uy vẫn ráng đợi cho đến khi mặt trời lặn. Lúc nổ máy, bỗng ông ta trông thấy có đèn hiệu chiếu ra từ bờ, liều mạng viên thuyền trưởng can đảm lái luôn chiếc Swift chạy vào bờ, vớt lên hai người nhái mất tích ban chiều. Nhiệm vụ đã xong, họ hướng về căn cứ xuất pháttrong Đà-Nẵng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kenneth Conboy, Dale Andradé, United Press, 2000&lt;br /&gt;Bạch-Hổ&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-4670886872278112483?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/4670886872278112483/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=4670886872278112483' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/4670886872278112483'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/4670886872278112483'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/chien-tranh-ngoai-le-4.html' title='Chiến Tranh Ngoại Lệ 4'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Skv-h1erlpI/AAAAAAAAEhs/nFpIrWF3s4c/s72-c/SPVDH23.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-9068228301657315664</id><published>2009-06-30T14:35:00.001-07:00</published><updated>2009-12-02T22:16:12.662-08:00</updated><title type='text'>Chiến Tranh Ngoại Lệ 5</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkwB8X-OQhI/AAAAAAAAEh0/V0dMCFh9I4I/s1600-h/lrrpmartinez7yz8.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 274px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkwB8X-OQhI/AAAAAAAAEh0/V0dMCFh9I4I/s400/lrrpmartinez7yz8.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353656193775452690" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;br /&gt;Bản tuyên ngôn Geneva về vấn đề trung-lập hóa Ai-Lao sẽ có hiệu lực kể từ ngày 6 tháng Mười năm 1962. Chánh quyền của tổngthống Kennedy ngưng tất cả mọi hoạt động bí mật, các toán biệt-kích nằm vùng ngoài Bắc được lệnh nằm chờ thời và tạm ngưng tất cả các hoạt động phá hoại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau vụ bắn rớt chiếc máy bay C-123 của hãng hàng không Air America ngày 22 tháng Mười Một. Chiếc máy bay này chở đồ tiếp tế nhân đạo cho dân Lào chứ không có mục đích quân sự nào làm chính quyền Kennedy nổi giận. Cơ quan CIA và phòng 45 được lệnh tiếp tục các hoạt động bí mật tại Bắc Việt-Nam. Toán Toubillon trong tháng Bẩy trước đây đã báo cáo đánh xập một cây cầu.&lt;br /&gt;Đầu tháng Mười Hai, toán được lệnh làm 'cú nữa', một cây cầu khác cách cây cầu trước khoảng mười hai cây số về hướng tây. Ngày 8 tháng Mười Hai, Toubillon báo cáo đã làm xong nhiệm vụ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy toán Tourbillon thành công, Saigon chuẩn bị toán biệt kích kế tiếp. Toán Lyre có&lt;br /&gt;nhiệm vụ phá hoại và lấy tin tức. Toán Lyre tuyển mộ những người theo đạo công&lt;br /&gt;giáo như hai toán thất bại trước đây Echo và Atlas. Toán Lyre sẽ được thả vào khu vực&lt;br /&gt;gần đèo Ngang. Nơi này gần biển, CIA xử dụng tầu đổ bộ từ biển vào thay vì thả dù như những toán biệt-kích khác. Ngày 29 tháng Mười Hai, lúc đổ bộ, toán biệt kích đã bị một trạm kiểm soát đặt nơi bãi biển phát giác. Năm người trong toán bị bắt ngày hôm sau, hai người còn lại định trốn về hướng nam, cũng bị bắt lại vào cuối tuần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán biệt kích phá hoại đầu tiên trong năm 1963 là toán Tarzan. Gồm năm người, điạ bàn hoạt động trong quận Tuyên-Hoá tỉnh Quảng-Bình. Vùng này toán Echo đã nhẩy&lt;br /&gt;dù xuống cách đó hai năm.Đêm 6 tháng Giêng, các biệt kích quân lên máy bay C-54 do phi công Đài-Loan lái cất cánh từ phi trường Tân-Sơn-Nhất. Chuyến thả biệt kích thành công, ít hôm sau, Tarzan lên máy báo cáo về Saigon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 12 tháng Tư, sáu biệt kích sắc tộc Thổ trong toán Pegasus nhẩy dù xuống tỉnh&lt;br /&gt;Lạng-Sơn. Nhiệm vụ của họ phá hoại một trong hai thiết lộ chính chạy từ biên giới Hoa-Việt tới Hà-Nội. Trong Saigon CIA ngồi đợi báo cáo của toán Pegasus, kết quả biệt tăm. Tháng sau, một toán biệt-kích khác nhẩy ra bắc cũng mất tích luôn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không đếm xiả đến những toán mất tích. Cơ-quan CIA tổng tấn công, thả ba toán&lt;br /&gt;cùng ngày 4 tháng Sáu. Chiếc C-54 không đủ sức chở ba toán biệt-kích cùng lúc, CIA&lt;br /&gt;phải mượn thêm một chiếc C54 khác từ Đài-Loan xang trong vòng một tháng. Sáng&lt;br /&gt;sớm ngày 5, cả hai chiếc C-54 trở về an toàn sau khi thả ba toán biệt kích ra ngoài miền Bắc. Tuy nhiên chỉ có toán Bell lên máy báo cáo về Saigon, hai toán kia bặt tin.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ba hôm sau, CIA làm tiếp bản cũ, cho hai toán đi chung một chiếc C-54 thả trong tỉnh Ninh-Bình và Thanh-Hóa. Cả hai đều không liên lạc. Hai hôm sau, hai toán khác lên đường trên một chiếc C-54 nhẩy dù xuống vùng Hà-Tĩnh và Nghệ-An, cũng biến mất luôn.&lt;br /&gt;Cơ quan CIA tìm loại máy bay khác để thay thế chiếc C54 trả lại Đài-Loan. Họ chọn&lt;br /&gt;loại máy bay C-123 đuôi rộng hơn, toán biệt kích cùng thùng tiếp liệu có thể ra khỏi trong vòng vài giây, như vậy đỡ bị phân tán thất lạc. Những chiếc C-123 không phù hiệunày sẽ do phi công Đài-Loan lái đến Tân-Sơn-Nhất ngày 15 tháng Sáu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán kế tiếp gồm tám biệt kích quân Việt-Nam mật hiệu Giant, lên chiếc C-123 vào&lt;br /&gt;buổi tối. Chiếc máy bay cất cánh bay ra biển, hướng về vịnh Bắc Bộ, bay cắt ngang&lt;br /&gt;thành phố Vinh ở ngoài Bắc đến vùng rừng núi nơi hướngtây. Đến mục tiêu, các biệt&lt;br /&gt;kích trong toán Giant nhẩy ra và chiếc máy bay C-123 quay đầu xuôi về nam. Trong&lt;br /&gt;Saigon, cơ quan CIA cố dò tìm làn sóng để nhận điện văn báo cáo của toán Giant nhưng hoài công. Tất cả đều êm lặng. Hai hôm sau, hai toán biệt kích khác đã sẵn sang lên đường. Toán thứ nhất gồm sắc tộc thiểu số mật hiệu Packer, sẽ xâm nhập vùng Yên-Bái. Hy vọng toán Packer sẽ thành công như toán Bell, toán duy nhất gửi điện văn về trong mùa hè. Cũng như toán Bell, Packer gồm năm biệt kích quân có nhiệm vụ phá hoại thiết lộ chạy xuyên qua tỉnh. Trưởng toán Packer là Ngô-&lt;br /&gt;Quốc-Chung người sắc tộc Tày . Toán thứ hai gồm ba người sẽ nhẩy xuống tăng&lt;br /&gt;cường cho toán Europa. Toán này đã nhẩy dù xuống vùng Hoà Bình mười bẩy tháng&lt;br /&gt;trước đây. Lúc đó chiếc phi cơ C-54 đã hết thời gian hoạt động, tuy&lt;br /&gt;nhiên họ muốn bay phi vụ chót. Chở cả hai toán đi thả, chiếc C-54 bay lên Yên-Báitrước. Đến bãi nhẩy, các biệt kích trong toáng Packer nhẩy dù xuống. Chiếc C-54 lượn vòng cung bay đi Hoà Bình, viên phi công bay thấp tránh mây và biến mất trước khi đến bãi thả toán biệt kích thứ hai. Toán Packer xuống tới đất cũng mất liên lạc với Saigon. Mất tích quá nhiều, Saigon chuẩn bị thêm một toán chót ra ngoài Bắc. Toán Dragon gồm toàn người sắc tộc Nùng, sẽ được đổ bộ bằng xuồng vào tỉnh Quảng Ninh, gần biêngiới Hoa-Việt. Đúng vào lúc thời tiết xấu, họ ra đi năm lần cùng ngày 15 tháng Bảy, bẩy người trong toán Dragon, bơi xuồng cao-su xâm nhập hải phận Bắc Việt. Từ đó họ biệt tăm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tính luôn toán Dragon, CIA đã thả ra ngoài bắc mười ba toán biệt-kích trong vòng bẩytháng. Đến tháng bẩy, chỉ có một toán báo cáo về Saigon., các toán còn lại coi như đã bị bắt. Ngày 9 tháng Bảy Hà-Nội loan tin xử toán biệt kích Pegasus, và thêm năm phiên toà xử biệt kích khác trong vòng ba tháng tới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rõ ràng là CIA đã thất bại xuống biệt kích trong việc thả các toán biệt kích ra miền Bắc. Một trong những lý do, bãi thả dù chọn không đúng. Nhiều toán nhẩy xuống quá gần nơi làng mạc và bị phát giác nhanh chóng. Thí dụ toán Tellus nhẩy xuống tỉnh Ninh-Bình ngày 8 tháng Sáu, bị phát hiện khi đang nhẩy dù xuống, cả bốn biệt kích trong toán bị bắt trong vòng hai mươi lăm phút. Toán Packer xui hơn, nhẩy&lt;br /&gt;đúng vào giữa làng, nhân viên truyền tin rơi trúng nóc nhà dân làng. Tháng Mười Hai 1962, Hà-Nội xử dụng toán Europa làm mồi nhử trong lúc phối trí bốn ổ súng phòng không 14.7 ly trong khu vực đồi núi tỉnh HòaBình. Đêm 10 tháng Tám, phicông Đài-Loan lái C-123 bay đi thả tiếp tế cho toán Europa. Trên mục tiêu, từ xa viên phi công trông thấy đèn thắp sáng theo hình chữ 'T'. Bỗng dưng đạn phòng không từ dưới đất bắn lên trúng nhiều chỗ trên thân phi cơ, nhưng viên phi công vẫn lái về an toàn. Về đến Saigon, vẫn còn sợ, viênphi công Đài-Loan xin nghỉ, chê tiền Đô-la Hoa Kỳ và dông thẳng một mạch về Đài Loan. Phi hành đoàn người Tầu cũng sợ, họ từ chối bay tiếp tế cho toán Europa trong tỉnh Hòa Bình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kenneth Conboy, Dale Andradé, United Press, 2001.&lt;br /&gt; Bạch-Hổ &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-9068228301657315664?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/9068228301657315664/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=9068228301657315664' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/9068228301657315664'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/9068228301657315664'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/chien-tranh-ngoai-le-5.html' title='Chiến Tranh Ngoại Lệ 5'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkwB8X-OQhI/AAAAAAAAEh0/V0dMCFh9I4I/s72-c/lrrpmartinez7yz8.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-8790251056088354651</id><published>2009-06-30T14:34:00.004-07:00</published><updated>2009-07-02T13:21:49.219-07:00</updated><title type='text'>Chiến Tranh Ngoại Lệ 6</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk0W0ZNqeFI/AAAAAAAAEiE/0hueg60cvew/s1600-h/VernCAR15.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 279px; height: 380px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk0W0ZNqeFI/AAAAAAAAEiE/0hueg60cvew/s400/VernCAR15.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353960621390592082" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;(Bài 6) &lt;br /&gt;Ngày 20 tháng Mười Một 1963, những nhân vật quan trong trong chính quyền Hoa-Kỳ, Những người sẽ quyết định phương thức chiến đấu trên chiến trường Việt-Nam. Tổng thống Diệm đã bị giết, bây giờ phải xắp xếp lại công việc. Người ngồi ghế chủ toạ là bộ-trưởng quốc phòng Robert S. McNamara, bên phải là đôđốc Felt tư-lệnh tất cả các đơn vị Hoa-Kỳ trong vùng TháiBình-Dương (CINCPAC). Ngồi đối diện với McNamara &lt;br /&gt;là ngoại-trưởng Hoa-Kỳ Dean Rusk, phụ-tá là George Ball, cố vấn an-ninh quốc-gia &lt;br /&gt;McGeorge Bundy, trùm cơ quan CIA John McCone. Thêm hai người đến từ Saigon &lt;br /&gt;là đại-sứ Henry Cabot Lodge và tướng Paul Harkins tư lệnh cơ quan MACV (Bộ Tư-Lệnh Quân Viện Việt-Nam). Họ quyết định chuyển giao những hoạt động của cơ quan &lt;br /&gt;CIA cho quân-đội. Chuyện bàn giao này có mật hiệu là kế hoạch Trở-Lại (Switch &lt;br /&gt;Back). &lt;br /&gt;Từ năm 1957, cơ quan CIAvà Ngũ-Giác-Ðài (bộ TổngTham-Mưu QLHK) đã phối &lt;br /&gt;hợp làm việc. Những quân nhân mũ-xanh (LLÐB/HK) đã đến cố vấn cho liên-đoàn &lt;br /&gt;Quan-Sát số 1. Năm 1961, LLÐB/HK gia tăng cộng tác với cơ quan CIA. Năm đó CIA &lt;br /&gt;mở trung tâm huấn luyện ởThủ-Ðức và ở Hòa Cầm gầnÐà-Nẵng. Thủ-Ðức chứa bốn &lt;br /&gt;đại-đội Biệt-Kích Nhẩy-Dù, dự trù cho những chuyến xâm nhập qua Lào. Hòa Cầm huấn luyện dò-thám biên-giới, đường mòn. Cơ-quan CIA tài trợ tiền bạc, quân Mũ-Xanh tổ chức việc huấn luyện cho cả hai nơi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðầu năm sau, CIA bắt đầu tổ chức lực-lượng Dân-SựChiến-Ðấu (CIDG), tuyển mộ &lt;br /&gt;dân thiểu số thành những đại đội võ trang chống lại quân Việt-Cộng. CIA xữ dụng quân Mũ-Xanh Hoa-Kỳ huấn luyện và sống với dân tộc thiểu số.&lt;br /&gt;Sở Khai-Thác Ðiạ-Hình PhủTổng-Thống cũng gửi ngườiqua giúp đỡ. Ðến tháng Bẩy &lt;br /&gt;cơ quan CIA đồng ý bàn giao chương trình CIDG cho quân đội. Chuyện này bắt đầu cho kế hoạch Trở Lại và sẽ hoàn tất trong vòng một năm. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những hoạt-động ngoài bắc, kế-hoạch 34-63 là chuyện khác. Tháng Giêng năm 1963, &lt;br /&gt;hải-quân Hoa-Kỳ đã gửi toán biệt-hải (SEAL) qua huấn luyện về hành-quân biệt-hải ngoài Ðà-Nẵng. Hai tháng sau toán biệt-kích Mũ-Xanh từ Okinawa đến huấn luyện &lt;br /&gt;trong căn cứ mới của CIA ở Long-Thành cách Saigon chừng hai mươi hai cây số về &lt;br /&gt;hướng tây. Căn cứ này thaythế cho căn cứ ở Thủ-Ðức được đặt tên là trại Quyết &lt;br /&gt;Thắng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi lập căn cứ ở Long-Thành, tất cả những biệt kích ra bắc đều do mấy tay Xiạ &lt;br /&gt;(CIA) huấn luyện trong những nhà an-toàn rải rác trong Saigon. Trên lý thuyết, điều &lt;br /&gt;này tốt trên phương diện bảo mật, mỗi toán đều ở riêng biệt. Căn cứ rộng lớn trên &lt;br /&gt;Long-Thành thực tế hơn cho những buổi huấn luyện phá hoại, xử dụng vũ-kích, mìn. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán Mũ-Xanh đầu tiên đến căn cứ Long-Thành là toán A-413 do đại-úy Clinton &lt;br /&gt;Hayes làm trưởng toán. Họ huấn luyện cả điệp viên lẫn biệt-kích-dù. Tháng Mười &lt;br /&gt;toán A-413 được thay thế bởi toán A-211 đến từ Okinawa, trưởng toán là đại-úy &lt;br /&gt;Lawrence White. Trong Saigon, dựa theo kế hoạch Trở Lại, ngày 1 tháng Tư năm 1963, Sở Khai-Thác Ðiạ-Hình đổi tên thành Lực-Lượng Ðặc-Biệt, một binh chủng trong QL/VNCH. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau nhiều biến cố xẩy ra vào cuối năm 1963, cả hai vị tổng thống VNCH và Hoa-Kỳđều bị giết. Ðầu năm 1964, các hoạt động ngoài bắc nằm trong kế hoạch 34A. Ngày 3 tháng Hai, tướng Nguyễn-Khánh được tường trình về kế-hoạch 34A, ông ta có vẻ hài lòng và hứa sẽ yểm trợ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kế hoạch 34A vẫn được tiếp tục soạn thảo mặc dầu tình hình chính trị rối ren trong &lt;br /&gt;Saigon. Ngày 24 tháng Giêng, Hoa-Kỳ thành lập đoàn Hành-Quân Ðặc-Biệt (SOG) và đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của vị Tổng Tham Mưu Trưởng QLHK và cơ quan &lt;br /&gt;MACV. Trên giấy tờ, đơn vị SOG xử dụng kỹ thuật chiến tranh ngoại-lệ 'phá-hoại, quấy rối và làm suy giảm nền kinh tế' chế độ cầm quyền miền Bắc. SOG tổ chức xâm nhập bắt tù-binh, phá hoại, tuyên truyền, lấy tin tức tình báo, và phản gián. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chương trình hoạt động của SOG chia ra làm bốn loại. Loại 1 là những trận đột kích &lt;br /&gt;bất ngờ. Loại 2 đột kích phá hoại những căn cứ, nhà máy quân, dân sự. Loại 3 tổ chức &lt;br /&gt;những cuộc hành quân cấp đại-đội, tiểu đoàn vào lãnh thổ miền bắc, phá hoại những &lt;br /&gt;căn cứ, cơ-xưởng, nhà máy lớn ngoài bắc. Loại 4, có thể xử dụng không lực đánh phá &lt;br /&gt;làm suy-xụp nền kinh-tế miền bắc. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dựa theo nhiệm-vụ cho phép, SOG tiến hành giai đoạn 1 từ tháng Hai cho đến &lt;br /&gt;tháng Năm 1964. Tất cả ba mươi ba mục tiêu trong đó 22 trận đột kích phá hoại. Vị chỉ &lt;br /&gt;huy trưởng đầu tiên đơn vị SOG là đại tá Clyde R. Russell, cựu trung đoàn trưởng trong sư đoàn 82 nhẩy dù, cựu liên-đoàn trưởng LLÐB. CIA đã bàn giao cho SOG những gì họ xây dựng từ những năm trước, kể cả các tầu Swift, PTF các toán biệt hải cùng thủy thủ đoàn. Hành quân nhẩy dù, CIA bàn giao lại mấy chiếc C-123 cùng phi hành đoàn Ðài-Loan. Họ cũng bàn giao luôn căn cứ Long-Thành cho SOG. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðơn vị SOG tiếp tục các hoạt động ngoài bắc. Ngày 23 tháng Tư, C-123 chở toán biệt &lt;br /&gt;kích ba người ra tăng cường cho toán Remus. Phi cơ bay tới điểm hẹn, những ngọn đồi &lt;br /&gt;gần khu vực Ðiện-Biên-Phủ. Phi hành đoàn trông thấy đèn hiệu từ dưới đất, bật đèn xanh cho các quân nhân biệt-kích nhẩy dù ra. Sau đó Remus báo cáo những toán viên mới đã xuống an toàn. Cú đầu tiên của SOG thành công. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai hôm sau SOG chuẩn bị cho chuyến thứ hai. Toán biệt kích Attila gồm sáu quân nhân Việt-Nam nhẩy dù xuống phiá nam tỉnh Nghệ-An. Lần này SOG không nhận được báocáo, coi như mất tích. Ðến cuối mùa hè SOG đã thả thêm tám toán biệt kích ra miền bắc. Ba chuyến ra tăng cường cho các toán nằm vùng từ  trước đều nhận được công điện báo cáo. Năm toán khác nhẩy dù xuống mục tiêu mới, chỉ có một toán lên máy báo cáo về Saigon. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi đó Washington theo dõi sát các hoạt động của đơn vị SOG. Nhiều vấn đề &lt;br /&gt;được nêu lên, các toán nằm vùng ngoài bắc, nhiều toán thiếu đồ tiếp liệu, thực phẩm. &lt;br /&gt;Toán Bell hoạt động trong tỉnh Yên-Bái đã hơn một năm không được tái tiếp tế. Trước &lt;br /&gt;khi nhận được tiếp tế trong tháng Bảy, hiệu thính viên toán Bell báo cáo ba toán &lt;br /&gt;viên đã chết vì đói. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một vấn đề khác trong vấn đề lãnh đạo chỉ huy. Theo điện văn ngày 19 tháng &lt;br /&gt;Giêng, kế hoạch 34A (miền bắc) có hai chủ, vị đại-sứ tại Saigon và tư-lệnh cơ quan &lt;br /&gt;MACV. Thêm vào nữa, SOG chỉ nhận lệnh từ cơ quan Phản-Gián và các Dịch-Vụ &lt;br /&gt;Ðặc Biệt (SACSA) ở Washington. Tóm tắt đơn vị SOG phải xin phép cho mỗi sứ &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;mạng, điều này phức tạp. Tối thiểu, đại tá Russell, trùm SOG phải gửi chương trình &lt;br /&gt;hoạt động lên vị tư-lệnh TháiBình-Dương, thông báo vị tổng-tham-mưu trưởng và &lt;br /&gt;được sự chấp thuận của đại-sứ Hoa-Kỳ tối thiểu 24 tiếng đồng hồ trước khi thi hành. &lt;br /&gt;Nhiều sứ-mạng phải được sự chấp thuận của tổng thống Hoa-Kỳ Johnson. Tất cả mọi &lt;br /&gt;viên chức cao cấp đều có quyền gạch bỏ những sứ mạng do SOG vạch ra mà không &lt;br /&gt;nêu lý do. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn nhiều vấn đề khác trong nội bộ. SOG than phiền các phi công của hãng Air &lt;br /&gt;America không hợp tác. Cácphi công Ðài-Loan từ chối bay tiếp tế cho toán Europa sau vố bị phòng không bắn. Sau khi SOG ra lệnh phải tiếp tục tái tiếp tế cho Europa, họ báo cáo bệnh. Vấn đề chọn bãi thả dù cũng tùm lum. Toán Attila trong tháng Tư nhẩy dù xuống tỉnh Nghệ-An, toán sau Lotus dự trù nhẩy xa về phiá bắc, lại nhẩy xuống cùng tỉnh. Toán Scorpion thả xuống cùng nơi với những toán khác bell, Packer, Buffalo, toán khác nhẩy vào cùng mục tiêu với toán Ruby.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến tháng Tám, trong căn cứ Long Thành có mười sáu toán, từ một đến mười lăm &lt;br /&gt;người trong mỗi toán. SởKhai-Thác Ðiạ-Hình cung cấp nhân lực tuyển mộ từ các đơn &lt;br /&gt;vị trong QL/VNCH làm cho các toán biệt kích mạnh thêm. SOG nhận được một trong sáu chiếc phi-cơ C-123 biến cải, bẩy phi hành đoàn Tầu và baViệt-Nam. Ðặt tên là phiđoàn số 1 trực thuộc đơn vị SOG dời ra Nha-Trang. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 14 tháng Mười Một, C-123 bay ra bắc thả biệt kích tăng cường cho toán Bell &lt;br /&gt;trong tỉnh Yên-Bái thành công. Phi hành đoàn Việt-Nam tên Cò-Trắng chuẩn bị &lt;br /&gt;phi vụ đặc biệt thả biệt kích xuống phá cầu Cam nơi phiá bắc thành phố Vinh. Cây cầu &lt;br /&gt;quan trọng này dùng cho cả thiết lộ, nếu bị xập sẽ ngăn cản lưu thông, tiếp vận của &lt;br /&gt;địch. Sau khi phá xập cầu, toán biệt-kích sẽ dùng xuồng bơi ra biển và sẽ được biệt hải &lt;br /&gt;đợi sẵn, đưa về miền nam. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sứ mạng này phức tạp hơn những chuyến trước đây. SOG tổ chức toán biệt kích Centaur gồm ba mươi ba người (gấp ba lần những toán trước đây). &lt;br /&gt;Chương trình huấn luyện cho Centaur bắt đầu từ ngày 26 tháng Bảy. Ba tháng sau, SOG sửa lại mục tiêu, tấn công dàn radar nơi bờ biển thay vì cầu Cam. Theo kế hoạch, tầu Nasty chở biệt hải ra bắc, họ sẽ dùng xuồng cao-su bơi vào bờ thám thính. Sau đó ra hiệu cho C-123 Việt-Nam chở toán Centaur nhẩy dù xuống tấn công đài radar. Xong nhiệm vụ tất cả rút lui bằng xuồng ra tầu Nasty. Ngày N sẽ là ngày 22 tháng Mười Hai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðể thực tập trận đột kích, ngày 10 tháng Mười Hai, hai chiếc Nasty chở biệt hải ra &lt;br /&gt;đậu ngoài khơi. Toán biệt hải bơi xuồng vào bờ, đợi ra hiệu cho C-123 chở biệt kích. &lt;br /&gt;Trong phi trường Ðà-Nẵng, toán Centaur hai mươi tám người lên máy bay C-123 do &lt;br /&gt;phi công Hồ-Văn-Kiệt lái. Cách phi trường chừng mười cây số, phi cơ gặp mây che &lt;br /&gt;phủ, đâm vào núi. Không một ai sống sót. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tài liệu 'How America Lost the Secret War in North Vietnam', Kenneth Conboy, &lt;br /&gt;Dale Andradé, United Press, 2000. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;15/03/2001 &lt;br /&gt;Bạch-Hổ &lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-8790251056088354651?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/8790251056088354651/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=8790251056088354651' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/8790251056088354651'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/8790251056088354651'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/chien-tranh-ngoai-le-6.html' title='Chiến Tranh Ngoại Lệ 6'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk0W0ZNqeFI/AAAAAAAAEiE/0hueg60cvew/s72-c/VernCAR15.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-7863071678627835172</id><published>2009-06-30T14:34:00.003-07:00</published><updated>2009-07-02T13:34:22.469-07:00</updated><title type='text'>Chiến Tranh Ngoại Lệ 7</title><content type='html'>&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk0ZwdEr42I/AAAAAAAAEiM/wUvVyfFhqG8/s1600-h/csolo.gif"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 288px; height: 202px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk0ZwdEr42I/AAAAAAAAEiM/wUvVyfFhqG8/s400/csolo.gif" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353963852242084706" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;(Bài 7) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không phải chỉ riêng những toán biệt kích nhẩy dù ra miền bắc thất bại. Những trận tấn công trên biển do biệt hải đảm trách cũng làm cho đơn vị SOG mất mặt. Từ &lt;br /&gt;tháng Sáu 1962 đến tháng Giêng 1964, biệt hải tổ chức bốn trận đột kích , một trận duy nhất thành công không bị thiệt hại về phiá ta. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trưa ngày 15 tháng Hai, bốn người nhái trong toán Neptune, kiểm lại hành trang và lên chiếc Swift. Chiếc tầu hướng ra miền bắc, họ chạy cách xa bờ biển để tránh radar. Một tiếng đồng trước nửa đêm, thuyền trưởng người Na-Uy cho tầu chạy vào &lt;br /&gt;gần bờ. Toán người nhái âm thầm làm việc trong màn đêm. Một người trong toán là Vu õÐức-Gương, người bắc công giáo di cư vào nam năm 1954. Gương là một trong những người nhái đầu tiên do CIA huấn luyện. Anh cũng có mặt trong tháng Mười Hai 1963 khi một chiếc Swift bị tầu Swatow Bắc Việt bắn chìm. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán người nhái cùng ba thủy thủ đoàn dùng xuồng cao-su bơi vào bờ. Nhiệm vụ của họ cũng như toán Vulcan trước đây. Xuồng đến cửa sông Gianh, toán người nhái sẽ bơi vào đặt mìn phá hoại, rồi bơi trở về xuồng. Sau đó chạy ra chiếc Swift tẩu thoát về miền nam. Một thủy thủ trực máy liên lạc với chiếc Swift đậu ngoài khơi đề phòng chuyện khẩn cấp. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyện không may xẩy ra, bỗng nhiên gió thổi mạnh tạo nên những ngọn sóng gây khó khăn cho chiếc xuồng cao-su. Khi toán người nhái đang xuống nước, một ngọn sóng lật úp xuồng, máy móc, đồ trang bị rớt xuống biển kể cả mìn để gắn vào mấy chiếc Swatow. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi toán cảm tử quân lật được chiếc xuồng trở lại, đông cơ cùng máy truyền tin bị nước vào hết hoạt động. Không thể gọi chiếc Swift vào cứu, họ chèo xuồng bằng bơi chèo trong đêm tối tìm đường trở lại chiếc Swift. Ðến gần sáng, chiếc Swift đợi &lt;br /&gt;quá lâu, chạy vào tìm, may gặp được chiếc xuồng cao-su, lôi tất cả lên tầu, cứu thoát toán người nhái cùng ba thủy thủ đoàn. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ban Cố-Vấn Hải-Quân (SOGlàm việc ngoài Ðà-Nẵng) phải đợi đến đêm không trăng tháng sau mới tổ chức lại 'cú khác'. Chiều ngày 11 tháng Ba, toán Neptune trở lại cửa sông Gianh trên chiếc Swift. Toán trưởng là Nguyễn-Văn-Nhu, Vũ-Ðức-Gương, hai người nhái khác là Phạm-Văn-Lý, Vũ-Văn-Giỏi. Công việc trở nên thường xuyên, chiếc Swift đậu ngoài khơi, xuồng cao-su đưa bốn người nhái đến cửa sông Gianh &lt;br /&gt;rồi đợi họ bơi trở về. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc quần áo lặn, đi chân vịt, toán người nhái chia làm hai tổ bơi vào. Hai tổ sẽ gặp nhau trong bến đậu mấy chiếc Swatow. Vào đến nơi, Gương và Lý ngoi đầu lên quan sát, không thấy chiếc Swatow nào hết, cũng không thấy hai người trong tổ kia (Nhu, Giỏi). Nhớ lại lúc họp hành quân, Gương và Lý bơi đến bến đậu thứ hai. Họ phải bơi &lt;br /&gt;ngược giòng, Gương để ý bọn chàng không đủ Oxy để bơi trở lại xuồng cao-su. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gương ra dấu cho Lý lội lên bờ, cả hai tháo bình dưỡng khí, chân vịt ra dấu vào bãi xậy để dễ hành động. Bỗng dưng, cótiếng hô to 'Ðứng lại', tiếp theo là ánh đèn soi khắp nơi rồi tiếng súng nổ vang. Cả hai liền quay trở lại nơi dấu đồ nhái. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên chiếc xuồng cao su, mấy thủy thủ ngồi chờ cho đến lúc rạng động. Không còn cách nào hơn, họ phải quay trở lại chiếc Swift, thiếu bốn người nhái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tin tổn thất về đến Ðà-Nẵng. Lần này toán Cố-Vấn Hải-Quân phác hoạ chương trình đánh phá mấy cây cầu dọc theo bờ biển miền bắc. Toán biệt hải xử dụng lấy ra từ toán biệt kích Cancer toàn người sắc tộc Nùng. Họ ngồi trên xuồng cao su bên hông &lt;br /&gt;chiếc Swift hướng về huyện Kỳ-Anh tỉnh Hà-Tĩnh. Khi chiếc xuồng cao su vào đến gần bờ, hai người ở lại ngoài biển. Vòng A-Cầu, Châu-Hềnh-Xương bước lên trên cát. Một toán tuần tiễu đi ngang qua, Xương chiếu đèn hiệu ra chỗ xuồng cao su báo nguy, sau đó cùng với Cầu chạy lủi vào một bụi rậm, hy vọng toán tuần tiễu đi qua, họ sẽ &lt;br /&gt;cho xuồng vào vớt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðiều không dễ như tiên đoán, toán tuần tiễu Bắc Việt trông thấy dấu chân in trên cát và tức khắc mở cuộc săn đuổi. Thấy bị động, chiếc xuồng cao-su chạy ra chiếc Swift, và quay trở lạiÐà Nẵng thiếu hai người nhái là Vòng-A-Cầu, Châu-Hềnh-Xương. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai hôm sau, NAD (ban Cố-Vấn Hải Quân) tổ chức chuyến khác, phá cầu trong tỉnh Quảng-Bình. Với kế hoạch cũ, chín người bơi xuồng cao-su vào gần bờ, thả toán người nhái, hai người trong nhóm đi nhằm vào đám dân đánh cá đêm. Thêm lần nữa chiếc Swift trở lại Ðà-Nẵng thiếu hai người nhái. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 1 tháng Tư năm 1964, lực-lượng Phòng-Vệ Duyên-Hải được chính thức thành lập ngoàiÐà-Nẵng dưới quyền thiếu-táNgô-Thế-Linh. Ðơn vị mới này tuyển mộ, huấn luyện thêm, nhiều toán lên tới ba mươi người. Không như CIA, SOG có thể tuyển mộ từ trong QL/VNCH. Toán Romulus gồm những quân nhân từ binh chủng TQLC/VN. Toán Nimbus tuyểntừ BÐQ và Nhẩy Dù. Hai toán khác từ HQ/VN toán Vega lấy từ &lt;br /&gt;đơn vị hải-thuyền, toán Athena lấy từ chiến hạm. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tấn công lên bờ khó thành công, NAD thảo chương trình khác mật danh Loki, bắt cóc ngư dân ngoài miền bắc đem đến cù-lao Chàm ngoài khơi Ðà Nẵng cho mặt trận Gươm-Thiêng Ái-Quốc tuyên truyền. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi nhận tầu Nasty, các trận tấn công đột kích lên bờ dễ thành công hơn. Hai mươi sáu biệt hải trên ba chiếc xuồng cao su tràn lên bờ bắn phá trong vòng mười phút rồi rút lui. Chuyến kế tiếp SOG soạn thảo kế hoạch đánh phá cầu trên quốc lộ 1 trong tỉnh Thanh-Hóa, xa hơn những mục tiêu thực hiện trước đây. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðêm 26 tháng Sáu, đơn vị biệt hải ra tay. Bẩy quân nhân làm nhiệm vụ phá cầu. Hai mươi hai người khác làm thành phần an ninh. Trận này họ giết hai địch quân gác cầu, hạ thêm bốn tên địch khác trong toán tuần tiễu. Thanh toán xong mục tiêu tất cả &lt;br /&gt;rút ra xuồng cao su và chạy về chiếc Nasty đang đợi. Sau trận đột kích thành công, &lt;br /&gt;tưởng 'dễ ăn', NAD tổ chức tấn công qui-mô hơn, xử dụng hai chiếc Nasty, một chiếc chở biệthải, chiếc thứ hai hộ tống. Mục tiêu cho trận đột kích này là nhàmáy bơm nơi phiá bắc ÐồngHới. Ðêm 30 tháng Sáu, hai chiếc Nasty xâm nhập hải phậnÐồng-Hới PTF5, và 6 đợi ngoài khơi trong khi ba mươi biệt hải xuống xuồng cao su vào tấn &lt;br /&gt;công. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bị hai vố trong vòng hai tuần, lần này miền Bắc đã chuẩn bị. Khi toán biệt hải lên tới bờ, họ được chào đón bằng đủ loại súng. Ngoài khơi, chìếc PTF-5 chạy vào bắn yểm trợ cho toán biệt hải rút lui, kẹt lại hai người. Ngày 15 tháng Bẩy, biệt hải tấn &lt;br /&gt;công nơi cửa sông Ron, để lại thêm hai người. Miền Bắc kháng cự quyết liệt, cơ quan &lt;br /&gt;MACV nhận được tin tình báo, mười chiếc Swatow trên đườngvào Ðồng-Hới, bốn chiếc khác đã đến sông Gianh. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tài liệu 'How American Lost the Secret War in North Vietnam', Kenneth Conboy, &lt;br /&gt;Dale Andradé, United Press, 2000 &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bạch-Hổ &lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-7863071678627835172?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/7863071678627835172/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=7863071678627835172' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/7863071678627835172'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/7863071678627835172'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/chien-tranh-ngoai-le-7.html' title='Chiến Tranh Ngoại Lệ 7'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk0ZwdEr42I/AAAAAAAAEiM/wUvVyfFhqG8/s72-c/csolo.gif' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-1236847655066539576</id><published>2009-06-30T14:34:00.001-07:00</published><updated>2009-06-30T14:34:33.084-07:00</updated><title type='text'>Chiến Tranh Ngoại Lệ 8</title><content type='html'>&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-1236847655066539576?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/1236847655066539576/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=1236847655066539576' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/1236847655066539576'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/1236847655066539576'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/chien-tranh-ngoai-le-8.html' title='Chiến Tranh Ngoại Lệ 8'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-8988856699132993051</id><published>2009-06-30T14:33:00.000-07:00</published><updated>2009-07-02T14:20:07.244-07:00</updated><title type='text'>Chiến Tranh Ngoại Lệ 9</title><content type='html'>&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk0kgfJl_qI/AAAAAAAAEiU/gwiaHZThV0A/s1600-h/vietnam72-1.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 342px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk0kgfJl_qI/AAAAAAAAEiU/gwiaHZThV0A/s400/vietnam72-1.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353975672549539490" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;(Bài 8) &lt;br /&gt;Ngày 20 tháng Giêng năm 1965, dưới ánh trăng một chiếc C-123 mầu xám không phù hiệu cắt ngang không phận phía tây tỉnh Lai Châu. Bay vòng trên bầu trời nơi hướng bắc long chảo Ðiện-Biên-Phủ, phi hành đoàn Ðài Loan trông thấy lửa đốt sáng trong khu rừng ở dưới đất đúng theo hình dáng trong mật hiệu. Toán biệt kích bốn người nhẩy ra khỏi phi cơ, chiếc C-123 bay qua Lào rồi hướng về nam. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những quân nhân biệt kích vừa nhẩy xuống vùng Lai Châu là toán đầu tiên đơn vị &lt;br /&gt;SOG thả xuống trong năm 1965 tăng cường cho toán Remus đã nằm vùng trước đó &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tình hình biến đổi, toán Remus nhận được lệnh đổi sang công tác phá hoại. Toán &lt;br /&gt;Remus trước đây chỉ được huấn luyện lấy tin tình báo, cũng như không đem theo 'đồ &lt;br /&gt;nghề' để 'làm chuyện phá hoại' do đó SOG thả xuống tăng cường cho Remus hai 'sư phụ' ngày 10 tháng Tám năm 1963. Cả hai tay tổ đều thuộc sắc tộc Tày nên dễ làm việc với Remus, duy trì đặc tính của toán biệt kích. Ba tháng sau, toán báo cáo đã rải mìn con đường chính hướng tâynam Ðiện-Biên-Phủ chạy qua đất Lào. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi CIA bàn giao các toán biệt kích cho đơn vị SOG trong tháng Giêng năm 1964, &lt;br /&gt;phá-hoại là nỗ lực chính trong kế hoạch 34A. Ngày 23 tháng Tư, SOG thả thêm ba biệt kích sắc tộc Mường xuống tăng cường cho Remus. Trong tháng Tám, Remus báo cáo &lt;br /&gt;phá xập thêm hai cầu nữa nơi phiá bắc thung lũng ÐiệnBiên-Phủ. Ðơn vị SOG thả &lt;br /&gt;thêm bốn biệt kích sắc tộc Mường khác cho Remus. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong tháng Giêng 1965, SOG dự trù thả thêm chín biệt kích quân Việt-Nam xuống &lt;br /&gt;tăng cường cho Remus. Nhóm này đem theo hỏa tiễn 4.5 inch nhỏ mới chế tạo đem qua chiến trường Việt-Nam. Toán Remus được lệnh dùng loại vũ khí mới này bắn vào phi đạo trong Ðiện-Biên-Phủ. Phi đạo này không quân Bắc Việt xử dụng như một căn cứ tiền phương. Ngày 20 tháng Giêng bốn biệt-kích quân Việt Nam nhẩy dù xuống nhập vào Remus, năm người khác cáo bệnh không đi. Công điện báo cáo về cho biết, một biệt kích quân bị gẫy chân lúc xuống đất, một bị ngã vỡ sọ chết. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vài tháng sau, đơn vị SOG có vị chỉ huy trưởng mới, một huyền thoại trong ngànhLLÐB, đại tá Donald D. Blackburn. Trong năm 1965, không lực Hoa-Kỳ oanh tạc Bắc Việt với chiến dịch Rolling Thunder. Quân Lực Hoa-Kỳ yêu cầu oanh kích &lt;br /&gt;đường mòn Hồ Chí Minh ngăn chặn đường tiếp vận chuyển quân của Bắc Việt vào chiếntrường miền nam. Ðể chỉ điểm cho các trận oanh kích, cơ quan MACV ra lệnh tổ &lt;br /&gt;chức các toán biệt kích do Mũ-Xanh Hoa-Kỳ làm toán trưởng xâm nhập, dò thám hệ &lt;br /&gt;thống đường mòn Hồ Chí Minh. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kết quả cho thời gian còn lại của năm 1965, SOG tuyển thêm quân Mũ-Xanh và huấn &lt;br /&gt;luyện họ chung với biệt kích quân Việt-Nam trong căn cứ Long Thành. Các cuộc hành &lt;br /&gt;quân dò thám đường mòn trên đất Lào có tên là ShiningBrass. Ðơn vị SOG tiếp tục &lt;br /&gt;tuyển mộ thêm tình nguyện trong QL/VNCH. Toán Romeo gồm năm quân nhân &lt;br /&gt;lấy từ sư đoàn 2 bộ binh và năm dân sự. Toán mười người Romeo đã được huấn luyện &lt;br /&gt;hơn một năm, có nhiệm vụ dò thám đường 103 chạy dọc theo vùng phi quân sự rồi đổ &lt;br /&gt;vào hệ thống đường mòn HồChí-Minh. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi toán Romeo chuyẩn bị, SOG tìm phương tiện khác để thả toán biệt kích. Các phi công Ðài-Loan bay C-123 không phải là 'hạng nhất'. Nhờ trực thăng Air America cũng không nên, SOG là đơn vị thuần tuý quân sự chứ không phải CIA. Cuối &lt;br /&gt;cùng họ xử dụng các phi cơ trực thăng H-34 của phi đoàn 219 (King Bee) VNCH. Mấy &lt;br /&gt;tay phi công trong phi đoàn 219 có nhiều kinh nghiệm thả biệt kích và rất liều mạng làm người Hoa-Kỳ phải thán phục. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bốn chiếc H-34 không phù hiệu được biệt phái ra Nha Trang trong tháng Mười 1965. &lt;br /&gt;Nhiệm vụ bay cho hành quân Shining Brass, các phi công Việt Nam chứng tỏ khả năng &lt;br /&gt;tài ba của mình. Trong nhiệm thả, thâu hồi các toán biệt kích Việt-Mỹ, các phi công &lt;br /&gt;Việt-Nam được người Hoa-Kỳ công nhận là 'siêu' (superb). Cũng vì vậy SOG quyết định dùng H-34 đưa toán Romeo xâm nhập. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáng 19 tháng Mười Một, mười biệt kích trong kế hoạch 34A được đưa tới Khe-Sanh. &lt;br /&gt;Lúc đó chưa nổi tiếng chỉ làmột căn cứ LLÐB nhỏ cách biên giới Lào-Việt sáu cây số, và cách vùng phi quân sự bốn mươi cây số. Ba giờ chiều toán Romeo lên ba chiếc trực &lt;br /&gt;thăng H-34 và phát xuất từ Khe-Sanh. Chiếc bay đầu có ba biệt kích quân, sĩ quan &lt;br /&gt;SOG, hai xạ thủ đại liên và một phi công phụ người Hoa-Kỳ. Người ngồi ghế phi công &lt;br /&gt;trưởng là đại-úy Nguyễn-Phi-Hùng biệt danh 'Moustachio'. Phần còn lại của Romeo chia đều trên hai trực thăng H-34 khác. Ðại-úy Hùng bay đầu dẫn đoàn trực thăng bay về hướng bắc lẫn vào trong mây. Băng qua vùng phi quân sự, đến mục tiêu ông ta đáp thẳng xuống bãi đáp, ba biệt kích quân nhẩy ra. Hai chiếc kia xuống theo thả toán biệt kích Romeo rồi bốc lên cao bay về hướng nam. Chuyến thả biệt kích thành công.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðầu năm 1966, đơn vị SOG tin rằng mình có chín toán biệt kích nằm vùng nơi miền bắc, tổng cộng bẩy mươi tám người. Hai toán mới nhất Romeo thả tháng Mười Hai &lt;br /&gt;1965 và toán Kern chín ngưòi nhẩy dù xuống gần đèo Mụ-Già trong tháng Ba 1966 và &lt;br /&gt;đã liên lạc sau khi xâm nhập. Hai toán này có nhiệm vụ thâu thập tin tức tình báo theo &lt;br /&gt;lệnh vị tư-lệnh lực-lượng Hoa-Kỳ vùng Thái-Bình-Dương(CINPAC). Ông ta tin rằng &lt;br /&gt;Hà-Nội đang sửa lại những con đường dùng để chuyển quân, đồ tiếp vận vào miền &lt;br /&gt;nam. Kết quả các toán biệt kích phải đếm số xe vận tải Molotova của địch di chuyển &lt;br /&gt;trên đường. SOG nhìn nhận, lệnh-lạc cho các toán biệt kích đôi khi mơ-hồ không rõ &lt;br /&gt;ràng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðơn vị SOG cũng đã nhận thêm loại máy truyền tin mới Delco 5300 thay cho loại máy &lt;br /&gt;cũ cồng kềnh RS-1 phải quay tay, máy Delco 5300 cũng có thể truyền tín hiệu Morse. &lt;br /&gt;Phiá địch quân, Hà Nội tiếp tục gia tăng hệ thống phòng không làm cho các phi công Ðài-Loan 'lạnh cẳng' những lần bay thả đồ tiếp liệu. Lúc đó hai toán cần phải được tiếp tế, điệp viên Ares xâm nhập năm 1961 và toán Eagle sáu người nhẩy dù xuống phiá tây tình Quảng-Ninh tháng Sáu năm 1964. Hai toán này nằm gần thành-phố Hải-Phòng nơi có hỏa lực phòng không rất mạnh. Trong tháng hai 1965, SOG đưa ra kế hoạch thả tiếp tế cho toán Eagle, rồi Eagle sẽ chia cho Ares (làm một chuyến cho cả hai toán). Kế hoạch bị đình trệ nhiều lần. Hệ thống phòng không nơi Hải-Phòng đã có thêm hoảtiễn Sam. Nghe nói tới hỏatiễn Sam các phi công Ðài-Loan xanh mặt, từ chối bay. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vẫn phải tiếp-tế cho họ, để tránh hoả lực phòng không, SOG tìm giải pháp khác dùng &lt;br /&gt;loại phi-cơ bay nhanh hơn. Lúc này các phi-công Việt-Nam được để ý tới. Trong ba &lt;br /&gt;phi hành đoàn được huấn luyện bay với cao độ thấp ở Florida năm 1964, một toán tử &lt;br /&gt;nạn trong lúc huấn luyện, một toán bỏ cuộc. Toán thứ ba sau này bị loại vì bay tiếp tế nhiều lần không thành công.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðể lấy lại uy-tín, tướng Kỳ người đầu tiên bay thả biệtkích, cũng là người đầu tiên bay phi vụ oanh kích trongtháng Hai năm 1965. Ông ta cho phép xử dụng đơn vị nổi &lt;br /&gt;tiếng của ông ta, phi đoàn 83 chiến-thuật biệt danh Thần-Phong bay những chiếc &lt;br /&gt;Skyraider A-1G không phù hiệu. Phi đoàn này qui-tụ những phi công 'thượng hạng' &lt;br /&gt;của KL/VNCH. Trong tháng Tư 1966, một đơn vị A-1G vượt tuyến bay thẳng đến &lt;br /&gt;những ngọn đồi gần đường 103. Khi nhận được tín hiệu của toán Romeo trên mặt đất, &lt;br /&gt;viên phi công thả hai quả bom Napalm, bên trong chứa đồ tiếp liệu cho toán biệt kích &lt;br /&gt;trong kế hoạch 34A gồm quần áo, lương thực, đạn dược. Rồi đến phiên KL/HK tiếp &lt;br /&gt;tay. Phi-đoàn tác-chiến 366trong phi trường Ðà-Nẵng dùng phản lực F-4 Phantom &lt;br /&gt;thả tiếp tế cho toán Eagle nơi phiá tây tỉnh Quảng-Ninh. Người Hoa-Kỳ chuẩn bị kỹcàng hơn, một phi tuần F-4 tấn công một mục tiêu gần đó, rồi hai chiếc F-4 tách ra bay về hướng khác, họ bay cách mặt đất chừng mười sáu thước, khi trông thấy tín hiệu của toán biệt kích Eagle, hai phi công thả những trái bom Napalm chưá đồ tiếp liệu. Toán biệt kích báo cáo thâu hồi đầy đủ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhờ những trận oanh kích nơi miền bắc, đơn vị SOG nhận được máy bay C-130 cho &lt;br /&gt;những hoạt động bí mật. Trường hợp bị rơi ngoài bắc, người Hoa-Kỳ sẽ chối là &lt;br /&gt;thuộc KL/HK. Phi hành đoàn C-130 sẽ được huấn luyện đặc biệt trong căn cứ không quân Pope, tiểu bang North Carolina. Ðến mùa hè, SOG nhận thêm bốn chiếc MC130, &lt;br /&gt;gắn thêm 'râu' trước mũi để bốc toán biệt kích theo kiểu điệp viên James Bond &lt;br /&gt;007 (Fulton Skyhook extraction system). &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Mười, bốn chiếc MC130 đến Nha-Trang dưới danh hiệu phi-đoàn Vận-Chuyển &lt;br /&gt;314, nhưng họ chỉ nhận lệnh từ đơn vị SOG. Sau những lần bay thực tập, họ ra miền bắc thả truyền đơn và sẵn sànglàm việc. Ðêm Noel họ làm 'cú' đầu tiên, thả hai biệt kích nhẩy dù xuống tăng cường cho toán Tourbillon. Phi công trưởng Leon Franklin kể lại 'Chúng tôi cất cánh từ Nha-Trang, bay dọc theo biểnngang qua Ðà-Nẵng rồi vào &lt;br /&gt;đất liền. Phi hành đoàn gồm có hai phi-công, một cơ khí viên, hai sĩ quan định hướng, &lt;br /&gt;thêm một phi công thứ ba đọc bản đồ'. Khi chiếc máy bay đến mục tiêu, viên phi công &lt;br /&gt;trưởng Franklin để ý tìm tín hiệu, không thấy gì hết. Họ bay trở lại, lần này trông thấy &lt;br /&gt;lửa đốt lên ở dưới theo hình chữ L. Ðúng mật hiệu, hai biệt kích quân nhẩy ra, chiếc phi cơ vòng lại bay về hướng nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðơn vị SOG vẫn tiếp tục tìm đủ mọi phương tiện để tăng hiệu năng hoạt động. Các phi công Việt-Nam lái H34 rất có khả năng và thành công trong việc thả toán Romeo trước đây, tuy nhiên SOG thích loại trực thăng CH3 của KL/HK. Chiếc CH-3 mới trên chiến trường Việt-Nam, có khả năng bay nhanh hơn và chở nhiều hơn chiếc H34. Trong tháng Mười năm 1965, tám chiếc CH-3 đến Nha-Trang trong phi đoàn 20 &lt;br /&gt;Trực Thăng. Tháng Tư năm sau, sáu chiếc biệt danh Pony Express thuyên-chuyển qua &lt;br /&gt;căn cứ không quân Nakhon Phanom bên Thái-Lan. Toán biệt kích đầu tiên xâm &lt;br /&gt;nhập bằng CH-3 là toán Hector, toán này chia làm hai toán nhỏ. Hector-A sẽ xâm &lt;br /&gt;nhập bắc Việt-Nam lập điạ điểm dò thám đường. Toán Hector-B sẽ xuống sau, nhiệm &lt;br /&gt;vụ liên lạc với dân điạ phương. Ngày 22 tháng Sáu, mười lăm biệt kích trong toán &lt;br /&gt;Hector-A lên đường qua Nakhon Phanom. Nhiệm vụ của họ thăm dò đường số 137 &lt;br /&gt;sát biên giới Lào-Việt, đường này lớn, chạy ngang qua đèo Ban Karai vào đường mòn &lt;br /&gt;Hồ-Chí-Minh. Toán Hector gồm toàn quân nhân Việt-Nam tuyển từ các đơn vị trong &lt;br /&gt;QL/VNCH, trưởng toán là đại-úy Nguyễn-Hữu-Luyện, người có cấp bậc cao nhất &lt;br /&gt;trong các toán biệt kích nhẩy bắc. Hector-A không đợi lâu bên Thái-Lan, họ lên hai chiếc CH-3 đang đợi sẵn. Hai trực thăng Pony Express bay xuyên qua đất Lào, xâm nhập không phận tỉnh Quảng-Bình. Khi mặt trời sắp lặn, họ đến bãi đáp, các biệt kích đẩy thùng đồ tiếp liệu của họ xuống trước rồi nhẩy xuống.Ít lâu sau, toán Hector báo &lt;br /&gt;cáo đã đến vị trí an toàn. Toán Hector-B tiếp theo, qua Thái-Lan ngày 23 tháng Chín. &lt;br /&gt;Như lần trước, xuống bãi thả, các biệt kích trong toán Hector-B biến mất vào rừng, &lt;br /&gt;sẽ nhập lại với toán Hector-A. Trong Saigon, SOG đợi điện văn của Hector-B nhiều hôm không thấy họ lên máy. Khi SOG chất vấn Hector-A, được trả lời rằng không tìm thấy mười một quân nhân trong toán Hector-B. Không màng tới chuyện Hector-B bị mất tích, SOG chuẩn bị cho thả toán kế tiếp. Toán Samson tám người gồm đủ sắc tộc &lt;br /&gt;thiểu số. Họ sẽ được trực thăng CH-3 đưa đến sát biên giới Lào-Việt rồi xâm nhập &lt;br /&gt;bộ qua biên giới đến đèo Tây-Trang nơi hướng nam ÐiệnBiên-Phủ. Nhiệm vụ cho toán Samson là dò thám đường số 4, con đường tiếp vận cho các đơn vị cộng-sản hoạt động vùng bắc Ai-Lao. Ngày 5 tháng Mười, trực thăng CH-3 chở toán biệt kích &lt;br /&gt;Samson cất cánh từ Nakhon Phanom bay về hướng bắc, ghé một trạm CIA trên đất &lt;br /&gt;Lào lấy thêm nhiên liệu rồi tiếp tục bay đến mục tiêu thả toán biệt kích. Toán Samson &lt;br /&gt;gửi tín hiệu về Saigon ngay tức khắc, chứng tỏ họ thành công.Ðơn vị SOG đợi ba tháng &lt;br /&gt;sau thả toán Hadley gồm mười một quân nhân Việt-Nam. Cũng như Samson, toán biệt kích sẽ được thả gần biên giới rồi xâm nhập bộ vào miền bắc. Toán Hadley có nhiệm vụ dò thám đường số 8, đường này sẽ qua đèo Nape rồi chạy qua Lào. Thêm vào đó, toán sẽ đặt máy thăm dò chấn động trên đường. Cơquan CIA đã thử máy bên Lào. Máy này có thể phân biệt chấn động do người hoặc xe cộ di chuyển. Toán Hadley &lt;br /&gt;sẽ phải thâu thập dữ kiện về xe cộ lưu-thông gửi về Saigon. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 26 tháng Giêng 1967, toán Hadley được đưa quaNakhon Phanom. Ði theo có &lt;br /&gt;đại-úy Nguyễn-Văn-Vinh bí danh Marc. Hai chiếc CH-3 bay ngang qua tỉnh Khammouane đến gần biên giới. Mặt trời lặn thật nhanh, chiếc CH-3 dẫn đầu đáp &lt;br /&gt;xuống một bãi trống, các biệt kích quân trong toán Hadley nhẩy ra. Chiếc trực thăng ngóc đầu bay lên, vòng lại hướng về phiá nam. Khi chiếc trực thăng lên được cao độ, Marc nhìn ra cửa sổ máy bay. Ngay tức khắc tim ông ta đập mạnh, bên kia đồi chỗ vừa thả toán biệt kích là một con đường đất. Khi được thuyết trình hành quân, trong tấm không ảnh không có con đường đất. Họ đã xuống lầm bãi! Chiếc CH-3 thứ hai bay theo cũng phát giác ra chuyện đó, báo cáo ngay tức khắc. Chiếc trực thăng thả biệt kích quay trở lại, Marc và quân nhân chuyển vận Việt Nam chạy ra khỏi trực thăng vào bià rừng kêu gọi toán biệt kích. Họ gọi tên từng người, không ai trả lời, tất cả đã biến mất hút vào rừng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trở lại Nakhon Phanom, Marc ngồi bên cạnh thùng đồ ăn cho toán biệt kích để sẵn ra &lt;br /&gt;đi tiếp tế. Bốn mươi tám giờ trôi qua, Hadley vẫn biệt tăm.Trở lại Ðà-Nẵng, đại-úy Vinh ngồi sau chiếc khu trục cơ A-1 do phi công Việt-Nam lái. Trong hai ngày kế tiếp, họ bay ba lần ngang qua điểm hẹn với toán Hadley, hy vọng thấy tấm Pa-nô báo nguy hoặc tín hiệu của toán biệt kích. Tất cả hoài công. Hai hôm sau, Marc nhận được điện thoại của đại-úy Calisto từ Saigon gọi ra cho biết CIA bắt được công điện của Bắc Việt cho biết, địch đã phát giác toán biệt kích gần đèo Nape. Như vậy Hadley đãnằm trong tay Bắc Việt. Ðiều này đúng không? Mười tám ngày sau, Hadley lên máy báo &lt;br /&gt;cáo, toán chạm địch vẫn còn đang lẩn tránh. Ðiều này gây nên cuộc tranh luận trong &lt;br /&gt;Saigon, đơn vị SOG tổ chức toán Voi nhẩy xuống điều tra. Bốn biệt kích trong toán được trang bị ống nhòm cực mạnh và máy chụp ảnh xa (tele camera), họ được lệnh nằm lại, chụp ảnh bất cứ người nào lấy thùng tiếp liệu thả cho toán biệt kích Hadley. Ðiều này sẽ chứng minh toán Hadley đã bị bắt hay chưa. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 18 tháng Mười, Marc đi theo thả toán Voi trên chiếc MC-130. Ðến Hà-Tĩnh, toán biệt kích nhẩy ra khỏi phi cơ.Ðại-úy Vinh (Marc) đã dặn toán Voi khi xuống tới đất phải báo cáo ngay. Toán Voi biến mất luôn, không một lời báo cáo. Trong tháng Mười 1966, hiệu thính viên toán Romeo gửi về một điện văn ngắn 'Romeo đã bị bắt'. Tháng Mười Hai, Hà-Nội thông báo vụ bắt được và đem xử toán Kern, chín quân nhân biệt kích ngẩy xuống đèo Mụ-Già. Toán này xâm nhập từ tháng Ba, lần cuối cùng liên lạc tháng Chín. Trong tháng Ba1967, Hà-Nội thông báo tiếp về vụ toán Samson, toán này mất liên lạc từ ba tháng trước. Tháng Sáu đến phiên toán Hector-A lên đài Hà-Nội, bị khép vào tội gián-điệp. Cuối cùng lên đài là toán Bell. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tài liệu 'How American Lost the Secret War in North Vietnam', Kenneth Conboy, &lt;br /&gt;Dale Andradé, United Press, 2001. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bạch-Hổ &lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-8988856699132993051?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/8988856699132993051/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=8988856699132993051' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/8988856699132993051'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/8988856699132993051'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/chien-tranh-ngoai-le-9.html' title='Chiến Tranh Ngoại Lệ 9'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk0kgfJl_qI/AAAAAAAAEiU/gwiaHZThV0A/s72-c/vietnam72-1.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-5788954256347568100</id><published>2009-06-30T12:50:00.001-07:00</published><updated>2009-12-01T10:15:08.920-08:00</updated><title type='text'>Nha Kỹ Thuật - Tổng Tham Mưu TRẬN CHIẾN BÍ-MẬT</title><content type='html'>&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SxVdH5inj6I/AAAAAAAAIos/hgkXavrJ7gA/s1600/LOGO_SAMPLE.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5410332917642006434" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 309px; CURSOR: hand; HEIGHT: 400px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SxVdH5inj6I/AAAAAAAAIos/hgkXavrJ7gA/s400/LOGO_SAMPLE.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Trong chiến tranh Việt-Nam, một đơn-vị tối mật được ít người biết đến với danh hiệu Nha-Kỹ-Thuật thuộc bộ Tổng-Tham-Mưu, Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Những quân-nhân trong đơn-vị bí mật này thường được gọi là Lôi-Hổ hoặc xếp họ vào hàng lính Biệt-Kích thuộcbinh-chủng Lực-Lượng Ðặc-Biệt. Người Hoa-Kỳ cho rằng Nha-Kỹ-Thuật là một huyềnthoại trong cuộc chiến tranh Ðông-Dương.Cả hai đơn-vị NKT và LLÐB đều được Hoa-Kỳ yểm trợ mạnh mẽ, NKT có tổ chức riêng biệt dựa theo cơ-cấu tổchức của LLÐB. Các 'Sở' hoặc Bộ-Chỉ-Huy (CCN, CCC, CCS - Command &amp;amp; ControlNorth, Central, South) tươngđương với các Bộ-Chỉ-Huy 'C' (C1, C2, C3, C4) của LLÐB. Các 'Căn-cứ Hành-Quân Tiền-phương' (FOB - Forward Operation Base) tương-đương với các BCH 'B' (B50, B52, B57, v.v...). Các toán 'Lôi-Hổ' tương-đương với các toán 'A' biên-phòng. Bài viết này theo tài liệu trong cuốn 'SOG - The Secret Wars of America's Commandos in Vietnam', tác giả John L. Plaster.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Hai 1961, môt chiếc thuyền đóng theo kiểu những thuyền đánh cá khác ở Bắc Việt-Nam trôi bềnh bồng ngoài khơi vịnh Bắc Việt, lặng lẽ hướng về Cẩm-Phả, một thành phố nhỏ ven biển. Hai đêm trước, họ đã lướt qua hảicảng Hải-Phòng một cáchêm-thấm. Ðêm nay lúc hoàng hôn, họ có thể thấy mờ-mờ những rặng núi trong tỉnhQuảng-Ðông của Trung-Hoa vào khoảng 40 dặm về phiá bắc. Trường hợp không may xẩy ra, nếu họ bị bao vây, sẽ không có một chiếc tầu nào của phe ta đến tiếp cứu họ. Chiếc thuyền con không được đóng ở ngoài Bắc mà ở Vũng-Tàu cách xa 800 dặm, những người lái tầu đã được cơ-quan tình báo CIA Hoa-Kỳ bí-mật tuyển mộ và huấn luyện để đưa một người Việt-Nam tuổi khoảng trung tuần đem theo máy truyền tin xâm nhập vàomiền Bắc. Ðiệp viên bí danh Ares đã đặt chân lên miền Bắc thành công mỹ-mãn. Dưới thời tổng-thống Kenedy, điều-khoản số 52 trong Hội-Ðồng An-Ninh Quốc-Gia chấp thuận cho cơ-quan CIA xửdụng quân Biệt-Kích Mũ-Xanh (Special Forces) và đơnvị Người Nhái Hải Quân (Navy SEALs) để huấn-luyện, cố-vấn quân-nhân Việt-Nam trong những nhiệm-vụ bí-mật do ông trùm Xịa CIA Colby tổ chức.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại thành phố bờ biển Nha-Trang, Lực-Lượng Ðặc-Biệt Hoa-Kỳ huấn luyện cho Biệt-Kích quân Việt-Nam thuộcLiên-Ðoàn 1 Quan-Sát để dòthám đường mòn Hồ-Chí-Minh. Trong năm 1961-1962,Liên-Ðoàn 1 Quan-Sát tổ chức 41 cuộc hành-quân viễn thám, tìm kiếm dấu vết đường xâm-nhập cuả địch qua ngã Lào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi đó, ngoài Ðà-Nẵng, toán người-nhái Hoa-Kỳ huấn luyện thủy-thủ Việt-Nam, chuyên chở người xâm nhập miền Bắc bằng đường biển. Ngoài ra tổ chức thêm những toán Biệt-Hải với nhiệm-vụ mở những cuộc tấn công bất ngờ các mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc. &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Sau vài chuyến thành công, Hải-Quân Bắc Việt đã đề phòng, ngăn chận đánh chìm một số hải thuyền. Sau khi nhận định lại tình hình, cơ-quan CIA đổi hướng xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng-không qua sự tiếp tay của Không-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Các nhân-viên (Trong giai đoạn này họ là dân-sự) xắp xâm nhập miền Bắc được huấn luyện trong căn cứ ở Long-Thành, cách Saigon khoảng 20 dặm về hướng đông. Quân Mũ-Xanh và nhân viên CIA huấn luyện họ về ngành tình-báo, kỹ-thuật pháhoại, xử-dụng vũ-khí, nhẩydù, đánh morse và mưu-sinh. Những khả năng để họ có thể hoạt động trong nhiều năm ngoài Bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến cuối muà Xuân 1961, điệp-viên Ares vẫn thường gửi những điện văn morse đến trung tâm truyền tin viễn thông của CIA ở Phi-Luật-Tân để báo cáo. Không như điệp viên Ares, ra đi đơn độc. &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Bây giờ đến giai đoạn thả những toán biệt kích xâm-nhập từ 3 đến 8 người. Họ không được may mắn như điệp-viên Ares. Chuyến đầu tiên thả toán Atlas, toán này không có cơ hội để gửi điện văn báo cáo là đã đến nơi, chiếc máy bay chở họ cũng biến mất luôn! Tướng Kỳ đích thân lái phi vụ thứ hai thả toán Castor sâu vào miền Bắc Việt-Nam. Ba tháng sau, Hà-Nội làm rùm beng vụ đem xét-xử ba người sống sót trong toán Atlas. Ít lâu sau toán Castor cũng mất liên-lạc, rồi đến hai toán Dido và Echo cũng nằm trong tay địch quân. Toán cuối cùng thả xuống miền Bắc trong năm 1961 là toán biệt kích Tarzan cũng mất tích. Trong mùa hè 1962, cơ-quan CIA đồng-ý bàn giao các hoạtđộng trong vùng Ðông-Nam- Á cho quân-đội trong vòng 18 tháng. &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Chương trình bàn giao có tên là Kế-Hoạch Trở-Lại (Operation Switchback). Rồi thì chính-biến 1-11-1963 xẩy ra và nhiều biến đổi trong miền Nam Việt-Nam làm cho kế-hoạch chậm trễ. Quân-đội Hoa-Kỳ vẫn chưa có một đơn vị đặc biệt nào để đảm nhận chương trình của CIA bàn giao. Hà-Nội gia tăng mức độ xâm nhập vào miền Nam làm cho bộ-trưởng Quốc-Phòng Mc Namara ra lệnh thả nhiều toán 'Biệt-Kích' ra ngoài Bắc phá hoại 'Giới lãnh-đạo miền Bắc nên biết rằng họ sẽ phải trả giá nếu còn iếp tục nuôi dưỡng, cho quân xâm nhập vào miền Nam'. Kế-hoạch 34A (OPLAN-34A) ban-hành ngàỵ 15 tháng 12 năm 1963 giới hạn cho một số mục tiêu. &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;&lt;br /&gt;Mặc dầu Mc Namara thúc đẩy, kế-hoạch 34A bắt đầu từ ngày 1 tháng Hai 1964, Bộ-Chỉ-Huy Quân-Viện (MACV) mới lập xong một đơn vị cho các hoạt động bí mật của CIA.Ðơn vị này do một đại-tá chỉ huy và bao gồm nhiều đơn vị, từ LLÐB, Người Nhái, Không-Ðoàn Cảm-Tử (AirCommando). Ðơn vị mới này lấy tên là SOG (SpecialOperation Group) Liên-ÐoànHành-Quân Ðặc-Biệt. Sau đó đổi tên để bảo mật mặc dầu vẫn viết tắt là SOG (Study and Observation Group) Ðoàn Nghiên-Cứu, Quan-Sát, tên mới nghe có vẻ chỉ gồm những chuyên-gia hoặc những nhà giáo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðơn-vị mới SOG không trực thuộc cơ-quan MACV hoặc cấp chỉ huy của MACV là tướng William Westmoreland, mà nhận lệnh thẳng từ bộ TTM/QLHK (JCS) trong NgũGiác-Ðài và thường nhận lệnhtừ tòa Bạch Ốc. Chỉ có 5 sĩ quan cao cấp Hoa-Kỳ ở Saigon được báo cáo về những hoạt động bí-mật của SOG: Tướng Westmoreland, tham-mưu-trưởng của ông ta,trưởng phòng Nhì, tư-lệnh Ðệ- Thất Không-Lực, và viên tư lệnh lực-lượng Hải-Quân HK tại Việt-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;SOG được chấp thuận mở những cuộc hành quân phát xuất từ miền Nam Việt-Nam, và Thái-Lan vào đất Ai-Lao, Miên, Bắc Việt và có thể ở phiá bắc Miến-Ðiện, Quảng-Ðông, Quảng Tây, Hồ-Nam và đảo Hải-Nam bên Tầu. Ngân khoản dành cho SOG sẽ dấu trong ngân khoản dành cho Hải-Quân Hoa-Kỳ. Trùm SOG là một sĩ-quan thuộc binh-chủng Nhẩy-Dù trong trận Thế-Chiến thứ Hai, sau đó chuyển qua Lực-LượngÐặc-Biệt trong thập niên 50. Ðại-Tá Clyde Russell đã từng theo sư-đoàn 82 Dù nhẩy xuống Pháp, Hòa-Lan, sau đóchỉ-huy Liên-Ðoàn 10 LLÐBbên Âu-châu, sau đó là Liên-Ðoàn 7 LLÐB trong căn-cứ Fort Bragg, North Carolina.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong kế-hoạch 34A, đại-tá Russell và ban tham-mưu thay đổi cơ-cấu tổ chức của Liên-Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát dựa theo tổ chức OSS xâmnhập với sở Không yểm, Hải yểm và một đơn-vị Tâm-lý chiến. Cơ-quan CIA cho SOG xử-dụng hệ-thống tiếp-liệu đặc biệt với những đồ chơi 'Xa-xỉ phẩm' như vũ-khí tối tân, dụng cụ câu dây điệnthoại để nghe lén. Ðồ tiếp liệu bí mật này có trong căn cứ Chinen ở Okinawa. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Ngoài ra còn có thêm văn phòng chuyên lo việc tiếp liệu cho đơn vị SOG và LLÐB.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;CIA bàn giao thêm cho SOGmột phi đội C-123 từ Ðài-Loan do các phi-công Ðài-Loan lái để thay thế các máy bay C-47 của Không-Lực VNCH. Phi-đội này có tên là Ðệ Nhất gồm bốn chiếc C123. Mỗi chiếc có một phi hành đoàn phụ Hoa-Kỳ để bay những phi vụ trong miềnNam, các phi-công Ðài-Loan bay những phi vụ ra Bắc hoặc qua đất Miên. Những phi côngÐài-Loan này không biết tiếng Việt, có thẻ căn-cước Việt-Nam nhưng chỉ một số rất ít viên chức Việt-Nam mới biết họ là ai. CIA cũng bàn giao thành quả 3 năm hoạt-động của họ cho tới năm 1964. Tất cả 22 toán thả ra ngoài Bắc, chỉ còn liên-lạc được 4 toán Bell, Remus, Easy, Tourbillon và Ares.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong căn-cứ Long-Thành gần Saigon, SOG nhận được khoàng hơn 20 nhânviên đang thụ-huấn. Các sĩ quan SOG không tin tuởng nơi họ và phải loại trừ những quân nhân đó. SOG cũng không thể trả họ về cho QL/VNCH vì họ đã biết những nhiệm-vụ, hoạt động bí mật của cơ-quan ở ngoài Bắc. Cách giải quyết dễ dàng nhất là... cứ thả họ ra ngoài Bắc (Bỏ rơi cho địch quân). Trong tháng Năm, Sáu, Bảy 1964, các toán Boone, Buffalo, Lotus và Scorpion nhẩy dù xuống miền Bắc và đều bị bắt hết. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Ngoài ra một số nhân viên khác cũng được gửi ra ngoài Bắc để tăng cường cho hai toán Remus và Tourbillon. Sau khi thanh toán xong các toán do CIA để lại, SOG bắt đầu tuyển mộ nhân viên mới cho một chương trình huấn luyện dài 21 tuần lễ. Danh từ 'LÔI-HỔ' có từ đây. Ðể yểm trợ cho kế-hoạch 34A tấn công bất ngờ bờ biển Bắc Việt, trong đêm 16 tháng 2 năm 1964, ba thủy thủ người Na-Uy lái chiếc tầu Nasty (chạy rất nhanh, hỏa lực mạnh do Na-Uy chế tạo) chở theo người nhái Việt-Nam dự tính phá hủy một chiếc cầu, bị địch phát giác phải quay trở lại. Mấy đêm sau, một toán phá hoại người nhái khác xâm nhập miền Bắc bị thất bại, mất đi 8 quân nhân thuộc Lực-Lượng Người Nhái HQVN.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Qua tháng 7, các tốc đỉnh Nasty và Biệt-Hải dùng chiến thật tấn công bất ngờ rồi chạy, phá hủy được năm mục tiêu ngoài Bắc trong hai ngày 9 và 25 tháng Bảy. Ngày 30 tháng 7, SOG xử dụng 5 chiếc tốc đỉnh Nasty tấn công những dàn ra-đa gần Hải-Phòng gây nhiều tiếng nổ phụ. Trong tháng Tư 1964, bo ätrưởng quốc-phòng Mc. Namara ra lệnh thám-thính phần đất bên Ai-Lao. &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;div&gt;Chươngtrình 'Leaping Lena' bắt đầu thả toán đầu tiên qua Lào ngày 24 tháng Sáu, đến 1 tháng Bảy, năm toán Biệt-Kích Việt-Nam nhẩy dù qua biên giới Lào để dò-thám các hoạt động của quân-đội Bắc Việt Chương trình 'Leaping Lena' tới tai cố-vấn của tổngthống Hoa-Kỳ, ông William Bundy qua bản báo cáo 'Tất cả các toán đều bị địch tìm ra vị-trí, chỉ còn bốn người sống sót chạy thoát trở về'.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðầu năm 1965, phi công Jim Ryan của Air America (CIA), chụp được một số hình ảnh, những con đường mới làm từ đèo Mụ-Già qua phần đất Ai-Lao, hệ thống đường mòn HồChí-Minh gia tăng. Ngày 8 tháng Ba năm 1965, SOG cómột cấp chỉ huy mới là Ðại-Tá Donald Blakburn, một huyền thoại trong ngành Lực-LượngÐặc-Biệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tài liệu:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;SOG The Secret Wars Of America's Commandos in Vietnam, John L. Plaster. Dallas 20-11-1999&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;VÐH&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1957, chính quyền Eisenhower tài trợ cho một chương trình bí-mật. Phốihợp giữa cơ quan Trung-Ương Tình-báo CIA và bộ Quốc-Phòng Hoa-Kỳ giúp đỡ việc thành-lập một đơn-vị Lực-Lượng Ðặc-Biệt cho Nam Việt-Nam. Ðơn-vị này tên là Liên-Ðoàn Quan-Sát số 1, âm-thầm xâm-nhập vào hàng ngũ quân du-kích cộng-sản.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðể bảo mật, Liên-Ðoàn Quan-Sát số 1 do một ban tình báo trong bộ quốc phòng, ban Nghiên-Cứu điều hành. Ban này có hai thay đổi, thứ nhất đổi tên là Phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống, dưới sự theo dõi trực tiếp của tổng-thống Diệm. Thứ hai, trung-tá Lê-Quang-Tung được chỉ định làm trưởng phòng Liên-Lạc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1958, cơ-quan CIA tại Saigon, thành lập ban ngoại-vụ để làm việc với phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống. Trưởng ban là Russell Miller dưới danh hiệu ngoại-giao, ông ta để ý trung-tá Lê Quang Tung chọn mười hai nhân viên cho đơn vị mới. Mười một sĩ quan trẻ thiếu-úy hoặc trung-úy, dưới quyền đại-úy Ngô-Thế-Linh, người đã làm việc 5 năm ngoài Ðà-Nẵng. Trong tháng Mười Một, mười hai người được đưa qua Saipan. Họ được cơ-quan CIA huấn Luyện hai tháng về nhiều môn, tình-báo tác-chiến, phương-thức phá-hoại và điều-khiển đường giây tình-báo. Trở về Saigon vào cuối năm, đại-úy Linh được chính thức bổ nhiệm làm trưởng&lt;br /&gt;phòng Bắc Việt (bí-danh phòng 45) trong phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ có hơn chục người, trong những tháng kế tiếp, phòng 45 lo việc huấn luyện thêm nhânviên. Ðến giữa năm 1959 một nhóm năm sĩ-quan khác được đưa qua Saipan thụ huấn khóa huấn luyện ngắn sáu tuần lễ. Sau đó ít lâu, cơ-quan CIA cử nhân viên qua Saigon huấn luyện hai lần, mỗi lần khoá huấn luyện kéo dài mười hai tuần lễ. Lần này chương trình huấn luyện nhằm vào những sĩ quan trẻ sinh quán nơi miền Bắc và gốc người thiểu-số.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi việc huấn luyện kéo dài đến cuối năm 1959. Phòng 45 phác-họa kế hoạch đầu tiên, họ tìm cách xâm nhập vào một hậu phương mà địch kiểm soát rất chặt chẽ gần năm năm. Cơ quan CIA biết rõ trở ngại của phòng 45. Trước đó năm 1951-1953, họ cho xâm nhập 212 điệp viên Tầu vào Hoa-Lục, một nửa bị giết, nửa khác bị bắt. Trên đất Hàn quốc, kết quả cũng tương tự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phòng Liên-Lạc phủ Tổng Thống trao trách nhiệm cho trung-úy Ðỗ-Văn-Tiên bí danh Francois gửi một điệp-viên đơnđộc (singleton) ra ngoài Bắc. Francois tìm được một người có khả năng là Phạm-Chuyên, đã từng là đảng viên trong tỉnh Quảng-Ninh bị vợ bỏ, ông ta di cư vào miền nam. Mới đầu Phạm-Chuyên từ chối làm việc, mặc dầu trung-tá Lê-Quang-Tung đã cho đàn em theo dõi, dụ dỗ sáu tháng. Trung-úy Tiên (Francois) cộng tác với một nhân viên CIA là Edward Reagan tìm cách thuyết phục Chuyên, sau hơn sáu tháng Phạm Chuyên nhận lời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người điệp viên mới được đưa ra Nha-Trang để qua kỳ trắc nghiệm tâm-lý. Chuyên đạt được điểm xuất sắc, sau đó qua hai kỳ khảo nghiệm (test) nữa, một ở Saigon và ở Nha-Trang. Tiếp theo là phần huấn luyện cho Chuyên sáu tháng về ngành truyền-tin. Trong khi Chuyên được huấn luyện, trung-úy Tiên và Reagan bận rộn phác-hoạ kế hoạch gửi người điệp viên trở ra ngoài bắc. Chuyên sẽ nằm vùng dài hạn trong tỉnh Quảng-Ninh, một tỉnh ngay bờ biển, nơi Chuyên rất rành-rẽ, cho Chuyên xâm nhập bằng đường biển là điều hợp lý. Hai chuyên viêntình báo bay ra Ðà-Nẵng tìm địa điểm phát xuất, họ thuê một biệt thự có tường cao bao quanh làm căn cứ. Tất cả những hoạt động của họ từ đó trở về sau có mật hiệu là Pacific (Thái-Bình-Dương).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi Chuyên được gửi đi, Phòng 45 quyết định kế hoạch ngắn hạn, thả điệp viên qua vùng phi quân-sự, dọc theo vĩ tuyến 17. Người được tuyển chọn cho kế hoạch này là một người theo đạo công giáo, quê ở Hà-Tĩnh tên là Vũ-Công-Hồng. Hồng được huấn luyện nhanh chóng và đưa ra Huế sống trong một căn nhà an-toàn. Trong nhà có thêm hai sĩ-quan trẻ thuộc phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống là Phạm-Văn-Minh và Trần-Bá-Tuấn, cả hai đều đã được huấn luyện ở Saipan. Hai người có bí danh là Michael và Brad. Họ làm việc với nhân viên CIA David Zogbaum. Cũng như Francois (tr/u Tiên), Reagantrong Ðà-Nẵng, các hoạt động phát xuất từ Huế có mật hiệu làAtlantic (Ðại-Tây-Dương).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vũ-Công-Hồng mang bí danh là Hirondelle đã sẵn sàng ra đi. Thiếu-tá Trần-Khắc-Kính nhân vật thứ hai trong phòng Liên-Lạc PTT, có mặt trong lúc thả điệp viên Hirondelle qua sông Bến-Hải. Qua sông, Hirondelle biến mất vào màn đêm và trở lại miền nam vài tuần sau. Mặc dầu chỉ cho biết tin tức về đường đi nước bước, hệ thống an-ninh nơi miền Bắc, người điệp viên làm cho phòng 45 phấn khởi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai tháng sau chuyến đi của Hirondelle, Chuyên đã sẵn-sàng sau một năm huấn luyện. Sứ mạng của Chuyên khác với Hirondelle. Chuyên sẽ thu-thập tin tức tình báo, tuyển mộ thêm điệp viên và sẽ nằm vùng trong nhiều năm. Theo kế-hoạch (vỏ bọc / ngụy trang) Chuyên sẽ trở nên một người đánh cá ở Cẩm-Phả, một làng nhỏ gần vịnh Hạ-Long. Ðó cũng là quê của Chuyên trước năm 1958, sự trở về của Chuyên có thể bị lộ, tuy nhiên ông ta còn có gia đình, anh em, vẫn hy vọng được che chở.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phạm-Chuyên đã sẵng sàng rađi với bí danh Ares. Ðầu tháng Tư năm 1961, Ares lên tầu Nautilus I rời Ðà-Nẵng theo chuyến hải hành hai ngày về phiá bắc. Gặp thời tiết xấu, chiếc Nautilus I phải quay trở về bến. Vài hôm sau, thời tiết trở nên tốt, điệp viên Ares lại lên đường. Cả hai Francois và Reagan ra bến tầu tiễn Ares, Francois nhớ lại 'Tôi chúc anh ta đi may mắn'. Ðiệp viên Ares không nói một lời nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bầu trời xanh, biển lặng, chiếc Nautilus I lặng lẽ xâm nhập vào vùng biển Quảng-Ninh, sau đó Ares chèo xuồng nhỏ đổ bộ lênbờ. Ðịa điểm đổ bộ gần Cẩm-Phả, Ares đem đồ tiếp vận lên bờ rồi dấu hai máy truyền tin. Nhiệm vụ đầu tiên, anh ta phải tuyển mộ thêm một người để giúp đỡ trong việc xử dụng máy truyền tin. Phòng 45 đã rõ điều này nên sẽ chờ tín hiệu của Ares trong vòng nhiều tuần hoặc nếu không vài tháng. Không bị phát giác, có người trông thấy, người điệp viên lẻn về làng cũ, và vào thẳng căn nhà xưa của mình. Xum họp với gia đình, Ares thuyết phục người emPhạm-Ðộ. Miễn cưỡng, anh ta đi theo Ares ra bờ biển thâu hồi hai máy truyền tin. Họ đào hố chôn hai cái máy ở trong nhà.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyến xâm nhập của Ares coi như thành công. Ngày 9 tháng Tư, mấy ngư dân khám phá ra chiếc xuồng nhỏ của Ares. Tiếp theo sau là những cuộc khám xét làng đánh cá do lực lượng an-ninh. Sau khi xác định không ai làm chủ chiếc xuồng nhỏ, cuộc khám xét lan tràn ra bãi biển, và công-an tìm ra hố chôn dấu hai máy truyền tin.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghi ngờ điệp viên địch (miền nam) xâm nhập, viên chỉ huy lực lượng công an tỉnh Quảng Ninh thảo kế hoạch khám xét từng nhà, đặc biệt những nhà có người di cư vào nam, và những gia đình có liên hệ với chế độ thực dân trước đây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không biết chuyện đó, Ares vẫn trốn trong một cánh rừng gần đó. Anh ta đem theo một máy truyền tin, nhờ người em quay máy (crank), điệp viên Ares gửi đi bức điện văn đầutiên. Ðể tránh làn sóng bị giaothoa, Ares đánh tín hiệu từ bờ biển miền bắc Việt-Nam, vượt đại dương đến trạm Bugs, mật hiệu do cơ-quan CIA đặt cho trạm viễn thông ở Phi-Luật-Tân. Từ đó bản điện văn sẽ được tiếp vận, truyền đi đến cơ quan CIA tại Saigon. Robert Kennedy, nhân viên CIA bước vào phòng&lt;br /&gt;45 với bức điện văn trên tay vẫy-vẫy mừng rỡ nói lớn 'Thành công!'.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một phó bản bức điện văn của Ares được trình lên tổng-thống Diệm. Sau đó Ares gửi thêm hai mươi hai bản báo cáo nữa trong một thời gian gấp rút. Trong khi đó tại Quảng-Ninh, nhân viên phản-gián Bắc Việt dò làn sóng viễn thông để lấy những bản điện văn. Một cụ già cũng báo cáo cho công an rằng có người lạ tìm cách dấu mặt đang sống trong một căn chòi gần bãi biển. Cụ già nói thêm, có người trong nhà khoe một cây viết nguyêntử, vật ít thấy nơi miền bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với những điều thâu thập, công-an theo dõi nhà của gia đình Phạm Chuyên. Ngày 11 tháng Sáu, giới thẩm quyền bắtgiữ Phạm-Ðộ trong khi anh ta đem đồ tiếp tế vào rừng cho anh mình. Sáu ngày sau, họ khám phá ra máy truyền tin thứ hai chôn dấu trong nhà cùng với bản mật mã. (số phận người điệp viên Ares Phạm Chuyên ra sao???).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hà Nội có hai lựa chọn. Công bố vụ bắt được điệp viên Aresrồi đưa ra toà như nhóm Ðại-Việt trước đây, hoặc dùng Ares làm gián điệp đôi ép buộc Ares phải liên lạc thường xuyên với Saigon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðúng 9 giờ sáng ngày 8 tháng Tám, Saigon nhận được điện văn của Ares sau gần hai tháng mất liên lạc. Với sĩ-quan an-ninh Bắc Việt bên cạnh, người điệp viên cắt nghĩa về sự vắng mặt của mình. Mẹ và em gái anh ta không đủ tiền nạp thuế nông nghiệp, do đó anh ta phải lánh mặt lên Hà-Nội tạm thời. Saigon tạm tin vào những điều báo cáo của Ares và đồng ý gửi tiếp tế cho Ares theo lời yêu-cầu của anh ta. Chiếc Nautilus I lại rời Ðà-Nẵng ngày 12 tháng Giêng năm 1962 đem đồ tiếp tế cho Ares. Chiếc này đến vịnh Hạ-Long không gặp trở ngại, sau đó tự nhiên mất liên lạc vô tuyến một cách bí mật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phòng 45 lo ngại cho số phận chiếc Nautilus I cùng với thủy thủ đoàn, mặc dầu có sự nghi ngờ điệp viên Ares... Có lẽ chiếc tầu gặp tầu tuần duyên của Bắc Việt khi đến gần bãi biển.&lt;br /&gt;Phòng 45 cho đóng chiếc tầu khác lấy tên là Nautilus 2. Chiếc này sẵng sàng vào tháng Tư cùng với thủy thủ đoàn tuyển mộ từ những người Bắc di cư và huấn luyện tại Ðà-Nẵng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 11 tháng Tư, chiếcNautilus 2 rời Ðà-Nẵng ra Bắc hướng về vịnh Hạ-Long. Hai ngày sau ra đến ngoài khơi Quảng-Ninh. Sáu người trong nhóm mười bốn thủy thủ đoàn, xuống xuồng cao-su chở theo đồ tiếp vận cho Ares gồm bẩy hộp thiếc, và hai mươi ba hộp carton bọc trong bao plastic. Họ chèo xuồng đến một đảo nhỏ trong vịnh Hạ-Long, chất hàng lên đảo và lấy cây che đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi chiếc Nautilus 2 về đến Ðà-Nẵng an toàn, phòng 45 ăn mừng sự thành công của chuyến tiếp tế đầu tiên cho điệp viên Ares. Sau đó ngày 2 tháng Năm, họ gửi tín hiệu chỉ chỗ dấu hàngcho điệp viên Ares. Ít lâu sau, Ares báo cáo đã thâu hồi đồ tiếp vận kể cả máy truyền tin cùng với máy chụp ảnh 35mm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tài liệu 'How America Lost the Secret War in North VietNam', tác giả Kenneth&lt;br /&gt;Conboy, Dale Andradé. United Press 2000.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Carrollton, ngày 10 tháng Ba năm 2001&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cọp Khánh-Hòa &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-5788954256347568100?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/5788954256347568100/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=5788954256347568100' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/5788954256347568100'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/5788954256347568100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/nha-ky-thuat-tong-tham-muu-tran-chien.html' title='Nha Kỹ Thuật - Tổng Tham Mưu TRẬN CHIẾN BÍ-MẬT'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SxVdH5inj6I/AAAAAAAAIos/hgkXavrJ7gA/s72-c/LOGO_SAMPLE.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-7084887917331129733</id><published>2009-06-30T12:49:00.001-07:00</published><updated>2009-12-01T09:56:50.626-08:00</updated><title type='text'>Mục-Lục</title><content type='html'>&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkptD0kwahI/AAAAAAAAEgQ/Twq8U_xDAgc/s1600-h/tim105.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353211019503102482" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 335px; CURSOR: hand; HEIGHT: 310px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkptD0kwahI/AAAAAAAAEgQ/Twq8U_xDAgc/s400/tim105.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trận chiến bí mật (Lời giới thiệu). Trang 4&lt;br /&gt;Chiến tranh ngoại lệ (bài 1- 9). 10&lt;br /&gt;Biệt-kích quân 63&lt;br /&gt;Ngày trở về (phần 1) 69&lt;br /&gt;Ngày trở về (phần 2) 73&lt;br /&gt;Lực-Lượng Ðặc-Biệt trên chiến trường Việt-Nam. 76&lt;br /&gt;Giới thiệu Nha-Kỹ-Thuật / TTM. 96&lt;br /&gt;Kế-hoạch 34-A Thả biệt-kích. (phần 1). 99&lt;br /&gt;Kế-hoạch 34-A Thả biệt-kích. (phần 2). 103&lt;br /&gt;Kế hoạch 34-A Tâm-lý chiến. 108&lt;br /&gt;Kế-hoạch 35 (Oplan 35) Vượt-biên. 112&lt;br /&gt;Kế-hoạch 37 (Oplan 37) Biệt-hải. 126&lt;br /&gt;Kế hoạch 39 (Oplan 39) Chiến tranh tâm-lý. 131&lt;br /&gt;Hành quân Shining Brass. (Xâm nhập vượt biên qua Lào) 135&lt;br /&gt;Hành-quân Prairie Fire (Xâm nhập Lào). 143&lt;br /&gt;Khe-Sanh. (Xâm nhập vùng Khe-Sanh). 148&lt;br /&gt;Hành-quân Daniel Boone. (Xâm nhập qua Miên). 153&lt;br /&gt;Hành-quân Salem House. (Xâm nhập qua Miên). 161&lt;br /&gt;Hành-quân biệt-kích năm khói lửa 1968. 168&lt;br /&gt;Nhẩy dù xâm-nhập (HALO). 181&lt;br /&gt;Ðơn-vị đặc-nhiệm 957 Du-Kích Lưu-Ðộng.&lt;br /&gt;(Mobile Guerilla Forces). 189&lt;br /&gt;Ðại-đội xung-kích Hatchet Forces. 195&lt;br /&gt;Hành-quân biệt-kích. 202&lt;br /&gt;Mật-hiệu Bright Light. (Cứu tù-binh, con tin). 211&lt;br /&gt;Hành-quân biệt-kích cứu tù-binh. 215&lt;br /&gt;Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát (SOG) chiến-đấu trong cô-đơn. 224&lt;br /&gt;Trận chiến bí-mật - Nhìn lại. 230&lt;br /&gt;Biệt kích quân Việt-Nam đòi quyền tỵ-nạn. 233&lt;br /&gt;Phụ-bản về đơn vị Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát, Nha-Kỹ-&lt;br /&gt;Thuật TTM/QLVNCH. (1-10) 237&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-7084887917331129733?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/7084887917331129733/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=7084887917331129733' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/7084887917331129733'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/7084887917331129733'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/muc-luc_30.html' title='Mục-Lục'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkptD0kwahI/AAAAAAAAEgQ/Twq8U_xDAgc/s72-c/tim105.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-290651991511576358</id><published>2009-06-30T12:48:00.002-07:00</published><updated>2009-12-01T09:50:15.864-08:00</updated><title type='text'>Trận chiến bí mật (Lời giới thiệu)</title><content type='html'>&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sko3_YZb44I/AAAAAAAAEgA/Im7-XgOxzC4/s1600-h/specialoperation200.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353152669103678338" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 164px; CURSOR: hand; HEIGHT: 240px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sko3_YZb44I/AAAAAAAAEgA/Im7-XgOxzC4/s400/specialoperation200.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM&lt;br /&gt;Trong chiến tranh Việt-Nam, một đơn-vị tối mật được ít người biết đến với danh hiệu Nha-Kỹ-Thuật thuộc bộ Tổng-Tham-Mưu, Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Những quân-nhân trong đơn-vị bí mật này thường được gọi là Lôi-Hổ hoặc xếp họ vào hàng lính Biệt-Kích thuộc binh-chủng Lực-Lượng Ðặc-Biệt. Người Hoa-Kỳ cho rằng Nha-Kỹ-Thuật là một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Ðông-Dương. Cả hai đơn-vị NKT và LLÐB đều được Hoa-Kỳ yểm trợ mạnh mẽ, NKT có tổ chức riêng biệt dựa theo cơ-cấu tổ chức của LLÐB. Các 'Sở' hoặc Bộ-Chỉ-Huy (CCN, CCC, CCS - Command &amp;amp; Control North, Central, South) tương đương với các Bộ-Chỉ-Huy 'C' (C1, C2, C3, C4) của LLÐB. Các 'Căn-cứ Hành-Quân Tiền-phương' (FOB – Forward Operation Base) tương-đương với các BCH 'B' (B50, B52, B57, v.v...). Các toán 'Lôi-Hổ' tương-đương với các toán 'A' biên-phòng. Bài viết này theo tài liệu trong cuốn 'SOG – The Secret Wars of America's Commandos in Vietnam', tác giả John L. Plaster. Tháng Hai 1961, môt chiếc thuyền đóng theo kiểu những thuyền đánh cá khác ở Bắc Việt-Nam trôi bềnh bồng ngoài khơi vịnh Bắc Việt, lặng lẽ hướng về Cẩm-Phả, một thành phố nhỏ ven biển. Hai đêm trước, họ đã lướt qua hải cảng Hải-Phòng một cách êm-thấm. Ðêm nay lúc hoàng hôn, họ có thể thấy mờ-mờ những rặng núi trong tỉnh Quảng-Ðông của Trung-Hoa vào khoảng 40 dặm về phiá bắc. Trường hợp không may xẩy ra, nếu họ bị bao vây, sẽ không có một chiếc tầu nào của phe ta đến tiếp cứu họ. Chiếc thuyền con không được đóng ở ngoài Bắc mà ở Vũng- Tàu cách xa 800 dặm, những người lái tầu đã được cơ-quan tình báo CIA Hoa-Kỳ bí-mật tuyển mộ và huấn luyện để đưa một người Việt-Nam tuổi khoảng trung tuần đem theo máy truyền tin xâm nhập vào miền Bắc. Ðiệp viên bí danh Ares đã đặt chân lên miền Bắc thành công mỹ-mãn. Dưới thời tổng-thống Kenedy, điều-khoản số 52 trong Hội Ðồng An-Ninh Quốc-Gia chấp thuận cho cơ-quan CIA xư ûdụng quân Biệt-Kích Mũ- Xanh (Special Forces) và đơnvị Người Nhái Hải Quân (Navy SEALs) để huấn-luyện, cố-vấn quân-nhân Việt-Nam&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM Trang 5&lt;br /&gt;trong những nhiệm-vụ bí-mật do ông trùm Xịa CIA Colby tổ chức. Tại thành phố bờ biển Nha-Trang, Lực-Lượng Ðặc-Biệt Hoa-Kỳ huấn luyện cho Biệt- Kích quân Việt-Nam thuộc Liên-Ðoàn 1 Quan-Sát để dòthám đường mòn Hồ-Chí- Minh. Trong năm 1961-1962, Liên-Ðoàn 1 Quan-Sát tổ chức 41 cuộc hành-quân viễnthám, tìm kiếm dấu vết đường xâm-nhập cuả địch qua ngã Lào. Trong khi đó, ngoài Ðà- Nẵng, toán người-nhái Hoa- Kỳ huấn luyện thủy-thủ Việt- Nam, chuyên chở người xâm nhập miền Bắc bằng đường biển. Ngoài ra tổ chức thêm những toán Biệt-Hải với nhiệm-vụ mở những cuộc tấn công bất ngờ các mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc. Sau vài chuyến thành công, Hải- Quân Bắc Việt đã đề phòng, ngăn chận đánh chìm một số hải thuyền. Sau khi nhận định lại tình hình, cơ-quan CIA đổi hướng xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng-không qua sự tiếp tay của Không-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Các nhân-viên (Trong giai đoạn này họ là dân-sự) xắp&lt;br /&gt;xâm nhập miền Bắc được huấn luyện trong căn cứ ở Long-Thành, cách Saigon khoảng 20 dặm về hướng đông. Quân Mũ-Xanh và nhân viên CIA huấn luyện họ về ngành tình-báo, kỹ-thuật pháhoại, xử-dụng vũ-khí, nhẩy dù, đánh morse và mưu-sinh. Những khả năng để họ có thể hoạt động trong nhiều năm ngoài Bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến cuối muà Xuân 1961, điệp-viên Ares vẫn thường gửi những điện văn morse đến trung tâm truyền tin viễn thông của CIA ở Phi-Luật-Tân để báo cáo. Không như điệp viên Ares, ra đi đơn độc. Bây giờ đến giai đoạn thả những toán biệt kích xâm-nhập từ 3 đến 8 người. Họ không được may mắn như điệp-viên Ares.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyến đầu tiên thả toán Atlas, toán này không có cơ hội để gửi điện văn báo cáo là đã đến nơi, chiếc máy bay chở họ cũng biến mất luôn! Tướng Kỳ đích thân lái phi vụ thứ hai thả toán Castor sâu vào miền Bắc Việt-Nam. Ba tháng sau, Hà-Nội làm rùm beng vụ đem xét-xử ba người sống sót trong toán Atlas. Ít lâu sau toán Castor cũng mất liên-lạc, rồi đến hai toán Dido và Echo cũng nằm trong tay địch quân. Toán cuối cùng thả xuống miền Bắc trong năm 1961 là toán biệt kích Tarzan cũng mất tích. Trong mùa hè 1962, cơ-quan CIA đồng-ý bàn giao các hoạt động trong vùng Ðông-Nam- Á cho quân-đội trong vòng 18 tháng. Chương trình bàn giao có tên là Kế-Hoạch Trở-Lại (Operation Switchback). Rồi thì chính-biến 1-11-1963 xẩy ra và nhiều biến đổi trong miền Nam Việt-Nam làm cho kế-hoạch chậm trễ. Quân-đội Hoa-Kỳ vẫn chưa có một đơn vị đặc biệt nào để đảm nhận chương trình của CIA bàn giao.&lt;br /&gt;Hà-Nội gia tăng mức độ xâm nhập vào miền Nam làm cho bộ-trưởng Quốc-Phòng Mc Namara ra lệnh thả nhiều toán 'Biệt-Kích' ra ngoài Bắc phá hoại 'Giới lãnh-đạo miền Bắc nên biết rằng họ sẽ phải trả giá nếu còn tiếp tục nuôi dưỡng, cho quân xâm nhập vào miền Nam'. Kế-hoạch 34A (OPLAN-34A) ban-hành ngàỵ 15 tháng 12 năm 1963 giới hạn cho một số mục tiêu. Mặc dầu Mc Namara thúc đẩy, kế-hoạch 34A bắt đầu từ ngày 1 tháng Hai 1964, Bộ- Chỉ-Huy Quân-Viện (MACV) mới lập xong một đơn vị cho các hoạt động bí mật của CIA.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðơn vị này do một đại-tá chỉ huy và bao gồm nhiều đơn vị, từ LLÐB, Người Nhái, Không-Ðoàn Cảm-Tử (Air Commando). Ðơn vị mới này lấy tên là SOG (Special Operation Group) Liên-Ðoàn Hành-Quân Ðặc-Biệt. Sau đó đổi tên để bảo mật mặc dầu vẫn viết tắt là SOG (Study and Observation Group) Ðoàn Nghiên-Cứu, Quan-Sát, tên mới nghe có vẻ chỉ gồm những chuyên-gia hoặc những nhà giáo.&lt;br /&gt;Ðơn-vị mới SOG không trực thuộc cơ-quan MACV hoặc cấp chỉ huy của MACV là tướng William Westmoreland, mà nhận lệnh thẳng từ bộ TTM/QLHK (JCS) trong Ngũ- Giác-Ðài và thường nhận lệnh từ tòa Bạch Ốc. Chỉ có 5 sĩ quan cao cấp Hoa-Kỳ ở Saigon được báo cáo về những hoạt động bí-mật của SOG: Tướng Westmoreland, tham-mưu-trưởng của ông ta, trưởng phòng Nhì, tư-lệnh Ðệ- Thất Không-Lực, và viên tưlệnh lực-lượng Hải-Quân HK tại Việt-Nam. SOG được chấp thuận mở những cuộc hành quân phát xuất từ miền Nam Việt-Nam, và Thái-Lan vào đất Ai-Lao, Miên, Bắc Việt và có thể ở phiá bắc Miến-Ðiện, Quảng Ðông, Quảng Tây, Hồ-Nam và đảo Hải-Nam bên Tầu. Ngân khoản dành cho SOG sẽ&lt;br /&gt;dấu trong ngân khoản dành cho Hải-Quân Hoa-Kỳ. Trùm SOG là một sĩ-quan thuộc binh-chủng Nhẩy-Dù trong trận Thế-Chiến thứ Hai, sau đó chuyển qua Lực-Lượng Ðặc-Biệt trong thập niên 50. Ðại-Tá Clyde Russell đã từng theo sư-đoàn 82 Dù nhẩy xuống Pháp, Hòa-Lan, sau đó chỉ-huy Liên-Ðoàn 10 LLÐB bên Âu-châu, sau đó là LiênÐoàn 7 LLÐB trong căn-cứ Fort Bragg, North Carolina. Trong kế-hoạch 34A, đại-tá Russell và ban tham-mưu thay đổi cơ-cấu tổ chức của LiênÐoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát dựa theo tổ chức OSS xâm nhập với sở Không yểm, Hải yểm và một đơn-vị Tâm-lý chiến. Cơ-quan CIA cho SOG xử-dụng hệ-thống tiếp-liệu đặc biệt với những đồ chơi 'Xa-xỉ phẩm' như vũ-khí tối tân, dụng cụ câu dây điện thoại để nghe lén. Ðồ tiếp liệu bí mật này có trong căn cứ Chinen ở Okinawa. Ngoài ra còn có thêm văn phòng chuyên lo việc tiếp liệu cho đơn vị SOG và LLÐB. CIA bàn giao thêm cho SOG một phi đội C-123 từ Ðài- Loan do các phi-công Ðài- Loan lái để thay thế các máy bay C-47 của Không-Lực VNCH. Phi-đội này có tên là Ðệ Nhất gồm bốn chiếc C- 123. Mỗi chiếc có một phi hành đoàn phụ Hoa-Kỳ để bay những phi vụ trong miền Nam, các phi-công Ðài-Loan bay những phi vụ ra Bắc hoặc qua đất Miên. Những phi công Ðài-Loan này không biết tiếng Việt, có thẻ căn-cước Việt-Nam nhưng chỉ một số rất ít viên chức Việt-Nam mới biết họ là ai. CIA cũng bàn giao thành quả 3 năm hoạt-động của họ cho tới năm 1964. Tất cả 22 toán thả ra ngoài Bắc, chỉ còn liên-lạc được 4 toán Bell, Remus, Easy, Tourbillon và Ares. Trong căn-cứ Long- Thành gần Saigon, SOG nhận được khoàng hơn 20 nhân viên đang thụ-huấn. Các sĩ quan SOG không tin tuởng nơi họ và phải loại trừ những quân nhân đó. SOG cũng không thể trả họ về cho QL/VNCH vì họ đã biết những nhiệm-vụ, hoạt động bí mật của cơ-quan ở ngoài Bắc. Cách giải quyết dễ dàng nhất là... cứ thả họ ra ngoài Bắc (Bỏ rơi cho địch quân). Trong tháng Năm, Sáu, Bảy 1964, các toán Boone, Buffalo, Lotus và Scorpion nhẩy dù xuống miền Bắc và đều bị bắt hết. Ngoài ra một số nhân viên khác cũng được gửi ra ngoài Bắc để tăng cường cho hai toán Remus và Tourbillon. Sau khi thanh toán xong các toán do CIA để lại, SOG bắt đầu tuyển mộ nhân viên mới cho một chương trình huấn luyện dài 21 tuần lễ. Danh từ 'LÔI-HỔ' có từ đây. Ðể yểm trợ cho kế-hoạch 34A tấn công bất ngờ bờ biển Bắc Việt, trong đêm 16 tháng 2 năm 1964, ba thủy thủ người Na-Uy lái chiếc tầu Nasty (chạy rất nhanh, hỏa lực mạnh do Na-Uy chế tạo) chở theo người nhái Việt-Nam dự tính phá hủy một chiếc cầu, bị địch phát giác phải quay trở lại. Mấy đêm sau, một toán phá hoại người nhái khác xâm nhập miền Bắc bị thất bại, mất đi 8 quân nhân thuộc Lực- Lượng Người Nhái HQVN. Qua tháng 7, các tốc đỉnh Nasty và Biệt-Hải dùng chiến thật tấn công bất ngờ rồi chạy, phá hủy được năm mục tiêu ngoài Bắc trong hai ngày 9 và 25 tháng Bảy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 30 tháng 7, SOG xử dụng 5 chiếc tốc đỉnh Nasty tấn công những dàn ra-đa gần Hải-Phòng gây nhiều tiếng nổ phụ. Trong tháng Tư 1964, bộ trưởng quốc-phòng Mc. Namara ra lệnh thám-thính phần đất bên Ai-Lao. Chương trình 'Leaping Lena' bắt đầu thả toán đầu tiên qua Lào ngày 24 tháng Sáu, đến 1 tháng Bảy, năm toán Biệt- Kích Việt-Nam nhẩy dù qua biên giới Lào để dò-thám các hoạt động của quân-đội Bắc Việt Chương trình 'Leaping Lena' tới tai cố-vấn của tổngthống Hoa-Kỳ, ông William Bundy qua bản báo cáo 'Tất cả các toán đều bị địch tìm ra vị-trí, chỉ còn bốn người sống sót chạy thoát trở về'. Ðầu năm 1965, phi công Jim Ryan của Air America (CIA), chụp được một số hình ảnh, những con đường mới làm từ đèo Mụ-Già qua phần đất Ai- Lao, hệ thống đường mòn Hồ- Chí-Minh gia tăng. Ngày 8 tháng Ba năm 1965, SOG có một cấp chỉ huy mới là Ðại-Tá Donald Blakburn, một huyền thoại trong ngành Lực-Lượng Ðặc-Biệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tài liệu:&lt;br /&gt;SOG The Secret Wars Of America's Commandos in Vietnam, John L. Plaster.&lt;br /&gt;Dallas 20-11-1999&lt;br /&gt;VÐH&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-290651991511576358?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/290651991511576358/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=290651991511576358' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/290651991511576358'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/290651991511576358'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/tran-chien-bi-mat-loi-gioi-thieu-trang.html' title='Trận chiến bí mật (Lời giới thiệu)'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sko3_YZb44I/AAAAAAAAEgA/Im7-XgOxzC4/s72-c/specialoperation200.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-2320870535904901896</id><published>2009-06-30T12:48:00.001-07:00</published><updated>2009-12-01T09:50:45.619-08:00</updated><title type='text'>Chiến Tranh Ngoại Lệ</title><content type='html'>&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkpjJ4e6YaI/AAAAAAAAEgI/fp4MrRWWMWQ/s1600-h/C123SOG.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5353200128515269026" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 237px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkpjJ4e6YaI/AAAAAAAAEgI/fp4MrRWWMWQ/s400/C123SOG.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM Trang 9&lt;br /&gt;Năm 1957, chính quyền Eisenhower tài trợ cho một chương trình bí-mật. Phối hợp giữa cơ quan Trung-Ương Tình-báo CIA và bộ Quốc- Phòng Hoa-Kỳ giúp đỡ việc thành-lập một đơn-vị Lực- Lượng Ðặc-Biệt cho Nam Việt- Nam. Ðơn-vị này tên là LiênÐoàn Quan-Sát số 1, âm-thầm xâm-nhập vào hàng ngũ quân du-kích cộng-sản. Ðể bảo mật, Liên-Ðoàn Quan- Sát số 1 do một ban tình báo trong bộ quốc phòng, ban Nghiên-Cứu điều hành. Ban này có hai thay đổi, thứ nhất đổi tên là Phòng Liên-Lạc Phủ Tổng- Thống, dưới sự theo dõi trực tiếp của tổng-thống Diệm. Thứ hai, trung-tá Lê-Quang-Tung được chỉ định làm trưởng phòng Liên- Lạc. Năm 1958, cơ-quan CIA tại Saigon, thành lập ban ngoại-vụ để làm việc với phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trưởng ban là Russell Miller dưới danh hiệu ngoại-giao, ông ta để ý trung-tá Tung chọn mười hai nhân viên cho đơn vị mới. Mười một sĩ quan trẻ thiếu-úy hoặc trung-úy, dưới quyền đại-úy Ngô-Thế- Linh, người đã làm việc 5 năm ngoài Ðà-Nẵng. Trong tháng Mười Một, mười hai người được đưa qua Saipan. Họ được cơ-quan CIA huấn luyện hai tháng về nhiều môn, tình-báo tác-chiến, phương-thức phá-hoại và điều-khiển đường giây tình-báo. Trở về Saigon vào cuối năm, đại-úy Linh được chính thức bổ nhiệm làm trưởng phòng Bắc Việt (bí-danh phòng 45) trong phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống. Chỉ có hơn chục người, trong những tháng kế tiếp, phòng 45 lo việc huấn luyện thêm nhân viên. Ðến giữa năm 1959 một nhóm năm sĩ-quan khác được đưa qua Saipan thụ huấn khóa huấn luyện nắn sáu tuần lễ. Sau đó ít lâu, cơ-quan CIA cử nhân viên qua Saigon huấn luyện hai lần, mỗi lần khoá huấn luyện kéo dài mười hai tuần lễ. Lần này chương trình huấn luyện nhằm vào những sĩ quan trẻ sinh quán nơi miền Bắc và gốc người thiểu-số. Trong khi việc huấn luyện kéo dài đến cuối năm 1959. Phòng 45 phác-họa kế hoạch đầu tiên, họ tìm cách xâm nhập vào một hậu phương mà địch kiểm soát rất chặt chẽ gần năm năm. Cơ quan CIA biết rõ trở ngại của phòng 45.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước đó năm 1951- 1953, họ cho xâm nhập 212 điệp viên Tầu vào Hoa-Lục, một nửa bị giết, nửa khác bị bắt. Trên đất Hàn quốc, kết quả cũng tương tự. Phòng Liên-Lạc phủ Tổng Thống trao trách nhiệm cho trung-úy Ðỗ-Văn-Tiên bí danh Francois gửi một điệp-viên đơnđộc (singleton) ra ngoài Bắc. Francois tìm được một người có khả năng là Phạm-Chuyên, đã từng là đảng viên trong tỉnh Quảng-Ninh bị vợ bỏ, ông ta di cư vào miền nam. Mới đầu Phạm-Chuyên từ chối làm việc, mặc dầu trung-tá Lê-Quang- Tung đã cho đàn em theo dõi, dụ dỗ sáu tháng. Trung-úy Tiên (Francois) cộng tác với một nhân viên CIA là Edward Reagan tìm cách thuyết phục Chuyên, sau hơn sáu tháng Phạm Chuyên nhận lời. Người điệp viên mới được đưa ra Nha-Trang để qua kỳ trace nghiệm tâm-lý. Chuyên đạt được điểm xuất sắc, sau đó qua hai kỳ khảo nghiệm (test) nữa, một ở Saigon và ở Nha-Trang. Tiếp theo là phần huấn luyện cho Chuyên sáu tháng về ngành truyền-tin. Trong khi Chuyên được huấn luyện, trung-úy Tiên và Reagan bận rộn phác-hoạ kế hoạch gửi người điệp viên trở ra ngoài bắc. Chuyên sẽ nằm vùng dài hạn trong tỉnh Quảng-Ninh, một tỉnh ngay bờ biển, nơi Chuyên rất rành-rẽ, cho Chuyên xâm nhập bằng đường biển là điều hợp lý. Hai chuyên viên ình báo bay ra Ðà-Nẵng tìm địa điểm phát xuất, họ thuê một biệt thự có tường cao bao quanh làm căn cứ. Tất cả những hoạt động của họ từ đó trở về sau có mật hiệu là Pacific (Thái-Bình- Dương).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi Chuyên được gửi đi, Phòng 45 quyết định kế hoạch ngắn hạn, thả điệp viên qua vùng phi quân-sự, dọc theo vĩ tuyến 17. Người được tuyển chọn cho kế hoạch này là một người theo đạo công giáo, quê ở Hà-Tĩnh tên là Vũ-Công-Hồng. Hồng được huấn luyện nhanh chóng và đưa ra Huế sống trong một căn nhà an-toàn. Trong nhà có thêm hai sĩ-quan trẻ thuộc phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống là Phạm-Văn-Minh và Trần-Bá- Tuân, cả hai đều đã được huấn luyện ở Saipan. Hai người có bí danh là Michael và Brad. Họ làm việc với nhân viên CIA David Zogbaum. Cũng như Francois (tr/u Tiên), Reagan trong Ðà-Nẵng, các hoạt động phát xuất từ Huế có mật hiệu là Atlantic (Ðại-Tây-Dương). Vũ-Công-Hồng mang bí danh là Hirondelle đã sẵn sàng ra đi. Thiếu-tá Trần-Khắc-Kính nhân vật thứ hai trong phòng Liên- Lạc PTT, có mặt trong lúc thả điệp viên Hirondelle qua sông Bến-Hải. Qua sông, Hirondelle biến mất vào màn đêm và trở lại miền nam vài tuần sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc dầu chỉ cho biết tin tức về đường đi nước bước, hệ thống an-ninh nơi miền Bắc, người điệp viên làm cho phòng 45 phấn khởi. Hai tháng sau chuyến đi của Hirondelle, Chuyên đã sẵn-sàng sau một năm huấn luyện. Sứ mạng của Chuyên khác với Hirondelle. Chuyên sẽ thu-thập tin tức tình báo, tuyển mộ thêm điệp viên và sẽ nằm vùng trong nhiều năm. Theo kế-hoạch (vỏ bọc / ngụy trang) Chuyên sẽ trở nên một người đánh cá ở Cẩm-Phả, một làng nhỏ gần vịnh Hạ- Long. Ðó cũng là quê của Chuyên trước năm 1958, sự trở về của Chuyên có thể bị lộ, tuy nhiên ông ta còn có gia đình, anh em, vẫn hy vọng được che chở. Phạm-Chuyên đã sẵng sàng ra đi với bí danh Ares. Ðầu tháng Tư năm 1961, Ares lên tầu Nautilus I rời Ðà-Nẵng theo chuyến hải hành hai ngày về phiá bắc. Gặp thời tiết xấu, chiếc Nautilus I phải quay trở về bến. Vài hôm sau, thời tiết trở nên tốt, điệp viên Ares lại lên đường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cả hai Francois và Reagan ra bến tầu tiễn Ares, Francois nhớ lại 'Tôi chúc anh ta đi may mắn'. Ðiệp viên Ares không nói một lời nào. Bầu trời xanh, biển lặng, chiếc Nautilus I lặng lẽ xâm nhập vào vùng biển Quảng-Ninh, sau đó Ares chèo xuồng nhỏ đổ bộ lên bờ. Ðịa điểm đổ bộ gần Cẩm- Phả, Ares đem đồ tiếp vận lên bờ rồi dấu hai máy truyền tin. Nhiệm vụ đầu tiên, anh ta phải tuyển mộ thêm một người để giúp đỡ trong việc xử dụng máy truyền tin. Phòng 45 đã rõ điều này nên sẽ chờ tín hiệu của Ares trong vòng nhiều tuần hoặc nếu không vài tháng. Không bị phát giác, có người trông thấy, người điệp viên lẻn về làng cũ, và vào thẳng căn nhà xưa của mình. Xum họp với gia đình, Ares thuyết phục người em Phạm-Ðộ. Miễn cưỡng, anh ta đi theo Ares ra bờ biển thâu hồi hai máy truyền tin. Họ đào hố chôn hai cái máy ở trong nhà.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chuyến xâm nhập của Ares coi như thành công. Ngày 9 tháng Tư, mấy ngư dân khám phá ra chiếc xuồng nhỏ của Ares. Tiếp theo sau là những cuộc khám xét làng đánh cá do lực lượng an-ninh. Sau khi xác định không ai làm chủ chiếc xuồng nhỏ, cuộc khám xét lan tràn ra bãi biển, và công-an tìm ra hố chôn dấu hai máy truyền tin. Nghi ngờ điệp viên địch (miền nam) xâm nhập, viên chỉ huy lực lượng công an tỉnh Quảng Ninh thảo kế hoạch khám xét từng nhà, đặc biệt những nhà có người di cư vào nam, và những gia đình có liên hệ với chế độ thực dân trước đây. Không biết chuyện đó, Ares vẫn trốn trong một cánh rừng gần đó. Anh ta đem theo một máy truyền tin, nhờ người em quay máy (crank), điệp viên Ares gửi đi bức điện văn đầu tiên. Ðể tránh làn sóng bị giao thoa, Ares đánh tín hiệu từ bờ biển miền bắc Việt-Nam, vượt đại dương đến trạm Bugs, mật hiệu do cơ-quan CIA đặt cho trạm viễn thông ở Phi-Luật-Tân. Từ đó bản điện văn sẽ được tiếp vận, truyền đi đến cơ quan CIA tại Saigon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Robert Kennedy, nhân viên CIA bước vào phòng 45 với bức điện văn trên tay vẫy-vẫy mừng rỡ nói lớn 'Thành công!'. Một phó bản bức điện văn của Ares được trình lên tổng-thống Diệm. Sau đó Ares gửi thêm hai mươi hai bản báo cáo nữa trong một thời gian gấp rút. Trong khi đó tại Quảng-Ninh, nhân viên phản-gián Bắc Việt dò làn sóng viễn thông để lấy những bản điện văn. Một cụ già cũng báo cáo cho công an rằng có người lạ tìm cách dấu mặt đang sống trong một căn chòi gần bãi biển. Cụ già nói thêm, có người trong nhà khoe một cây viết nguyên tử, vật ít thấy nơi miền bắc. Với những điều thâu thập, công-an theo dõi nhà của gia đình Phạm Chuyên. Ngày 11 tháng Sáu, giới thẩm quyền bắt giữ Phạm-Ðộ trong khi anh ta đem đồ tiếp tế vào rừng cho anh mình. Sáu ngày sau, họ khám phá ra máy truyền tin thứ hai chôn dấu trong nhà cùng với bản mật mã. (số phận người điệp viên Ares Phạm Chuyên ra sao???). Hà Nội có hai lựa chọn. Công bố vụ bắt được điệp viên Ares rồi đưa ra toà như nhóm Ðại- Việt trước đây, hoặc dùng Ares làm gián điệp đôi ép buộc Ares phải liên lạc thường xuyên với Saigon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðúng 9 giờ sáng ngày 8 tháng Tám, Saigon nhận được điện văn của Ares sau gần hai tháng mất liên lạc. Với sĩ-quan an-ninh Bắc Việt bên cạnh, người điệp viên cắt nghĩa về sự vắng mặt của mình. Mẹ và em gái anh ta không đủ tiền nạp thuế nông nghiệp, do đó anh ta phải lánh mặt lên Hà-Nội tạm thời. Saigon tạm tin vào những điều báo cáo của Ares và đồng ý gửi tiếp tế cho Ares theo lời yêu-cầu của anh ta. Chiếc Nautilus I lại rời Ðà-Nẵng ngày 12 tháng Giêng năm 1962 đem đồ tiếp tế cho Ares. Chiếc này đến vịnh Hạ-Long không gặp trở ngại, sau đó tự nhiên mất liên lạc vô tuyến một cách bí mật. Phòng 45 lo ngại cho số phận chiếc Nautilus I cùng với thủy thủ đoàn, mặc dầu có sự nghi ngờ điệp viên Ares...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có lẽ chiếc tầu gặp tầu tuần duyên của Bắc Việt khi đến gần bãi biển. Phòng 45 cho đóng chiếc tầu khác lấy tên là Nautilus 2. Chiếc này sẵng sàng vào tháng Tư cùng với thủy thủ đoàn tuyển mộ từ những người Bắc di cư và huấn luyện tại Ðà-Nẵng. Ngày 11 tháng Tư, chiếc Nautilus 2 rời Ðà-Nẵng ra Bắc hướng về vịnh Hạ-Long. Hai ngày sau ra đến ngoài khơi Quảng-Ninh. Sáu người trong nhóm mười bốn thủy thủ đoàn, xuống xuồng cao-su chở theo đồ tiếp vận cho Ares gồm bẩy hộp thiếc, và hai mươi ba hộp carton bọc trong bao plastic. Họ chèo xuồng đến một đảo nhỏ trong vịnh Hạ-Long, chất hàng lên đảo và lấy cây che đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi chiếc Nautilus 2 về đến Ðà-Nẵng an toàn, phòng 45 ăn mừng sự thành công của chuyến tiếp tế đầu tiên cho điệp viên Ares. Sau đó ngày 2 tháng Năm, họ gửi tín hiệu chỉ chỗ dấu hàng cho điệp viên Ares. Ít lâu sau,&lt;br /&gt;Ares báo cáo đã thâu hồi đồ tiếp vận kể cả máy truyền tin cùng với máy chụp ảnh 35mm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tài liệu 'How America Lost the Secret War in North VietNam', tác giả Kenneth Conboy, Dale Andradé. United Press 2000.&lt;br /&gt;Carrollton, ngày 10 tháng Ba năm 2001&lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-2320870535904901896?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/2320870535904901896/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=2320870535904901896' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/2320870535904901896'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/2320870535904901896'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/chien-tranh-ngoai-le-bai-1-9-10.html' title='Chiến Tranh Ngoại Lệ'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SkpjJ4e6YaI/AAAAAAAAEgI/fp4MrRWWMWQ/s72-c/C123SOG.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-154157392575673222</id><published>2009-06-30T12:37:00.001-07:00</published><updated>2009-07-02T17:30:37.485-07:00</updated><title type='text'>Biệt-kích quân 63</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk1RKAXh6XI/AAAAAAAAEik/3qvmND6o9ss/s1600-h/546100.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 313px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk1RKAXh6XI/AAAAAAAAEik/3qvmND6o9ss/s400/546100.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5354024764352620914" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Biet Kich Quan&lt;br /&gt;Bai 10&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong một nỗ lực phá-hoại miền bắc Việt-Nam. Năm 1961, cơ quan Trung-Ương-Tình-Báo Hoa-Kỳ (CIA) bắt đầu thả những toán Biệt-Kích Việt-Nam xuống miền bắc.Ðến năm 1964, Ngũ-Giác-Ðài&lt;br /&gt;biết chắc rằng những quân nhân đó đã bị giết, cầm tù hoặc bị ép buộc làm việc cho cộng-sản. Cơ-quan này (NgũGiác-Ðài có thể xem như Bộ Tổng-Tham-Mưu của Quân-Lực Hoa-Kỳ) ra lệnh tiếp tục&lt;br /&gt;thả thêm những toán mới ra ngoài bắc trong kế-hoạch 34A. Nỗ lực mới này do đơn-vịnguỵ danh Ðoàn Nghiên-Cứu, Quan-Sát (Nha-Kỹ-Thuật)đảm trách. Ðến năm 1968, có khoảng 500 quân Biệt-Kích&lt;br /&gt;mất tích (chết hoặc bị bắt) ở ngoài bắc. Thân nhân của họ được cơ quan SOG (Nghiên-Cùu, Quan-sát) thông báo là họ đã chết, cơ quan này cũng không tìm hiểu thêm số-phận của các Biệt-Kích quân Việt-&lt;br /&gt;Nam hoặc tìm cách đem họ trở về.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai mươi năm sau, hơn 300 quân Biệt-Kích được trả tự do từ những trại tù ở ngoài bắc và những bí mật đen tối của HoaThịnh-Ðốn được đem ra ánh sáng. Dùng những hồ sơ đã qua thời gian bảo mật và&lt;br /&gt;những cuộc tiếp-xúc với biệt kích quân Việt-Nam, nhân viên CIA, SOG, nhân viên tình-báo. Ông Sedgwick Tourison, một chuyên viên tình báo bộ-Quốc-Phòng Hoa-Kỳ đả nói lên tấm bi-kịch trong cuộc chiến tranh tại Việt-Nam. Bị chính-quyền Hoa-Kỳ chối bỏ, các Biệt-Kích quân Việt-Nam còn sống sót qua thời gian giam cầm, có người bị cầm tù đến 30 năm, đã kể lại những mẫu chuyện rất hấp dẫn. Những toán của họ thường đụng quân Bắc Việt tại điạ điểm thả dù. Toạ độ thả toán đúng ra phải được giữ bí mật, họ bị giết ngay tức khắc hoặc bị bắt sống, nhiều người bị ép buộc làm việc cho địch&lt;br /&gt;quân, gửi những điện văn sai lạc về cơ-quan SOG. Lời khai của cựu nhân viên CIA, SOG làm xửng-xốt hơn nữa, các Biệt-Kích quân Việt-Nam vẫn được tiếp tục thả ra ngoài bắc mặc dầu chiến dịch đã được&lt;br /&gt;coi như chấm dứt.&lt;br /&gt;Dưới đây là bảng liệt-kê những toán Biệt-Kích quân Việt Nam được thả ra ngoài Bắc từ năm 1961 cho đến năm 1967.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Toán Ngày Thả Toán Phương Tiện Nhân-Viên Phụ-Chú&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. ARES 02/61 Biển 1 Vẫn liên-lạc trong tháng 04/69.&lt;br /&gt;2. ATLAS 03/61 Thả-Dù 4 2 chết, 2 bị bắt&lt;br /&gt;3. CASTER 05/61 Thả Dù 4 Mất liên lạc 07/63 bên Lào&lt;br /&gt;4. DIDO 06/61 Thả Dù 4 Gửi báo cáo sai-lạc. Chấm dứt.&lt;br /&gt;5. ECHO 06/61 Thả Dù 3 Gửi báo cáo sai lạc cho đến 08/62.&lt;br /&gt;6. TARZAN Không rõ Thả Dù 6 Liên lạc lần cuối 06/63, coi như bị địch bắt sống&lt;br /&gt;7. EUROPA 02/61 Thả Dù 5 Liên lạc lần cuối ngày 27/01/64 từ BVN.&lt;br /&gt;8. REMUS 16/04/62 Thả Dù 6 Thêm 2 người 12/08/63, 3 người 23/04/64,&lt;br /&gt;4 người Toán ALTER 22/10/64, 4 người 06/65, 2 người 21/08/67. Ngày 13/05/68 Bắc Việt loan tin bắt được quân Biệt-kích trong vùng hoạt động của toán Remus&lt;br /&gt;9. TOURBILLON 16/05/62 Thả Dù 8 Thêm 7 người toán COOTS 27/05/64, 7 người toán&lt;br /&gt;PERSEUS 24/06/64, 6 người toán VERSE 07/11/65, 2 người toán TOURBILLON BRAVO 24/12/66. Hiệu thính viên gửi tín hiệu khẩn 01/67. Toán được xử dụng để đánh lạc hướng địch cho đến 04/69.&lt;br /&gt;10. EROS 06/62 Thả Dù 5 Gửi báo cáo sai-lạc. Chấm dứt.&lt;br /&gt;11. PEGASUS 13/04/63 Thả Dù 6 .&lt;br /&gt;12. JASON 14/05/63 Thả Dù 5 .&lt;br /&gt;13. DAUPHINE 04/06/63 Thả Dù 5 .&lt;br /&gt;14. BELL 04/06/63 Thả Dù 7 Thêm 7 người toán GRECO 14/11/64. Lần cuối cùng gửi điện&lt;br /&gt;văn 19/03/67. Mt     03/07/67.&lt;br /&gt;15. BECASSINE 06/63 Thả Dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống.&lt;br /&gt;16. BART 07/06/63 Thả Dù 5 Bị bắt ít lâu sau khi xuống.&lt;br /&gt;17. TELLUS 07/06/63 Thả Dù 4 Bị bắt ít lâu sau khi xuống.&lt;br /&gt;18. MIDAS 10/06/63 Thả Dù 8 Bị bắt ít lâu sau khi xuống.&lt;br /&gt;19. NIKE 10/06/63 Thả Dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống.&lt;br /&gt;20. GIANT 07/63 Thả Dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống.&lt;br /&gt;21. PACKER 07/63 Thả Dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống.&lt;br /&gt;22. EASY 09/08/63 Thả Dù 8 Thêm 6 người toán PISCES 18/07/64, Thêm 5 người toán HORSE 05/65,&lt;br /&gt;Thêm 9 người 17/09/65. thêm 3 người 8/10/65 Toán (DOG/GECKO). Toán DOG/GECKO đổi tên là EASY ALPHA nhẩy xuống 07/67. Lần cuối cùng liên lạc 26/04/68 báo chí ngoài Bắc loan báo bắt được 12 Biệt Kích quân, trong đó có toán trưởng.&lt;br /&gt;23. Không tên 12/08/63 Thả Dù 2 Tăng cường cho toán REMUS.&lt;br /&gt;24. SWAN 04/09/63 Thả Dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống.&lt;br /&gt;25. BULL 07/10/63 Thả Dù 7 Bị bắt ít lâu sau khi xuống.&lt;br /&gt;26. RUBY 05/12/63 Thả Dù 8 Bị bắt ít lâu sau khi xuống.&lt;br /&gt;27. Không tên 23/04/64 Thả Dù 3 Tăng cường cho toán REMUS.&lt;br /&gt;28. ATTILA 25/04/64 Thả Dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống.&lt;br /&gt;29. LOTUS 19/05/64 Thả Dù 6 Bị bắt, bị đưa ra toà lãnh án.&lt;br /&gt;30. COOTS 27/05/64 Thả Dù 7 Tăng cường cho toán TOURBILLON. Trận&lt;br /&gt;31. SCORPION 17/06/64 Thả Dù 7 Bị bắt, đưa ra tòa lãnh án.&lt;br /&gt;32. BUFFALO 19/06/64 Thả Dù 10 Bị bắt, đưa ra toà lãnh án.&lt;br /&gt;33. EAGLE 28/06/64 Thả Dù 6 Bản phân tích 06/68: Bị địch bắt, còn 3 người dự trù di chuyển về hướng Nam. Bắt đầu di chuyển 11/68. Còn liên lạc trong năm 69.&lt;br /&gt;34. PISCES 18/07/64 Thả Dù 6 Tăng cường cho toán EASY.&lt;br /&gt;35. PERSEUS 24/07/64 Thả Dù 7 Tăng cường cho toán TOURBILLON.&lt;br /&gt;36. BOON 29/07/64 Thả Dù 9 Bị bắt đưa ra tòa lãnh án.&lt;br /&gt;37. ALTER 22/10/64 Thả Dù 4 Tăng cường cho toán REMUS.&lt;br /&gt;38. GRECO 14/11/64 Thả Dù 7 Tăng cường cho toán BELL. CENTAUR 28 Toán bị rớt máy bay C-123 ngày 10/12/64 nơi Ngũ Hoành SơnÐà Nẵng. Tử nạn REMUS ALPHA 05/65 5 Một phần của REMUS được lệnh triệt xuất qua Lào. Lần liên lạc cuối cùng 21/08/65. Tọa độ Vic 785367. “im lặng vô tuyến,&lt;br /&gt;đi Vạn Tượng (Lào)&lt;br /&gt;39. HORSE 05/65 Thả Dù 5 Tăng cường cho toán EASY.&lt;br /&gt;40. DOG/GECKO 17/09/65 Thả Dù 9 Tăng cường cho toán EASY. Sau bổ túc EASY ALPHA&lt;br /&gt;thành toán EASY ALPHA 30/10/65. Nhập lại toán EASY trong tháng 07/67.&lt;br /&gt;41. VERSE 07/11/65 Thả Dù 8 Tăng cường cho toán TOURBILLON. Hai người chết lúc thả dù. Toán hướng dẫn TOURBILLON về kỹ thuật thám sát đường mòn. 21/12/65, TOURBILLON chia 3 người qua toán VERSE. Toán VERSE tách ra. Ngày 27/07/67, radio Hà-Nội loan tin bắt sống toán.&lt;br /&gt;42. ROMEO 19/11/65 Trực Thăng 10 Tháng 10/66 nhận được điện văn rất rõ 'ROMEO đã bị bắt'.&lt;br /&gt;Lần cuối cùng liên lạc 05/08/68. Báo cáo mất tích 04/11/68.&lt;br /&gt;43. KERN 05/03/66 Thả Dù 9 Một người chết lúc thả dù. Lần cuối cùng liên lạc 05/09/66.&lt;br /&gt;Bỏ rơi 07/12/66.&lt;br /&gt;44. HECTOR 22/06/66 Trực Thăng 15 Thêm 11 người toán HECTOR BRAVO 23/09/66. Hai toán&lt;br /&gt;không gặp được nhau. Bỏ rơi BRAVO 28/12/66. HECTOR liên lạc lần cuối 15/03/67. Bỏ rơi 26/06/67.&lt;br /&gt;45. SAMSON 05/10/66 Trực Thăng 8 Bãi đáp bên Lào. Liên lạc lần cuối 02/12/66. Bỏ rơi 01/03/67.&lt;br /&gt;46. TOURBILLON 24/12/66 Thả Dù 2 Tăng cường cho TOURBILLON. Ðem BRAVO theo máy nghe&lt;br /&gt;lén điện thoại và máy dò thính.&lt;br /&gt;47. HADLEY 26/01/67 Trực Thăng 11 Xâm nhập vào miền Bắc bằng đướng bộ. Bản phân tích 06/68: Toán bị bắt ít lâu sau khi xâm nhập. Dùng để đánh lạc hướng địch quân từ 06/67. Ðược lệnh triệt&lt;br /&gt;xuất qua Lào. 03/69, toán báo cáo đã ở bên Lào cho trực thăng bốc về. Tìm không ra vị trí của toán.&lt;br /&gt;48. HANSEN 22/04/67 Trực Thăng 17 Toán chưa hề ra đến Bắc Việt Nam. Ðịch xuất hiện nơi bãi&lt;br /&gt;đáp. Yêu cầu triệt xuất.&lt;br /&gt;49. Không tên 21/08/67 Thả Dù 2 Tăng cường cho toán REMUS.&lt;br /&gt;50. GOLDFISH 13/09/67 Ðường Biển 1 Xâm nhập bằng Plowman. Ðiệp vụ 327. Ðiệp viên tuyển mộ&lt;br /&gt;trong nhóm tù binh ở Paradise. Ðiệp viên sẽ nằm vùng 60- 90 ngày và triệt xuất bằng đường biển. Mất liên lạc.&lt;br /&gt;51. RED DRAGON 21/09/67 Thả Dù 7 Bị phân tán lúc thả dù. Người Hoa-Kỳ tin là họ bị bắt. Sĩquan&lt;br /&gt;Việt-Nam cho rằng toán không sao trong bản báo cáo 06/68. Vẫn liên lạc cho đến tháng 04/69.&lt;br /&gt;52. VOI 18/10/67 Thả Dù 4&lt;br /&gt;Mất liên lạc sau khi xâm nhập.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Carrollton, Texas 31-12-1999&lt;br /&gt;Bạch-Hổ&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-154157392575673222?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/154157392575673222/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=154157392575673222' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/154157392575673222'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/154157392575673222'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/biet-kich-quan-63.html' title='Biệt-kích quân 63'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk1RKAXh6XI/AAAAAAAAEik/3qvmND6o9ss/s72-c/546100.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-4973090011961135081</id><published>2009-06-30T12:36:00.004-07:00</published><updated>2009-12-02T22:00:51.147-08:00</updated><title type='text'>Ngày trở về (phần 1) 69</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk5Y-DPyJAI/AAAAAAAAEk0/QiA4vx-INCQ/s1600-h/llhtcau.gif"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 394px; height: 176px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk5Y-DPyJAI/AAAAAAAAEk0/QiA4vx-INCQ/s400/llhtcau.gif" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5354314830036739074" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Trang 69&lt;br /&gt;Tặng các anh hùng Biệt-Kích&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau những năm tháng bị giam cầm trong các trại tù ở ngoài bắc, các chiến sĩ Biệt-Kích lần lượt được trả tự do, có người bị bắt từ năm1961 khi cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa-Kỳ (CIA) bắt đầu thả những toán quân Biệt-Kích ra ngoài Bắc. Bài viết dưới đây dựa theo cuốn 'Secret Army, Secret War' tạmdịch là 'Ðạo Quân Bí Mật, Trận Chiến Bí Mật' của tác giả Sedgwick Tourison.&lt;br /&gt;Bắt đầu cuối năm 1979, các tù binh Biệt-Kích trong trại tù Thanh Phong, dần dần được trả tự do. Trong mùa hè năm 1982, phần lớn các Biệt-Kích quân trong trại tù K1 đã được trả tự do, trở về với gia đình&lt;br /&gt;của họ. Trước khi được trả tự do, cán bộ miền bắc từ Hà-Nội đã nói với nhiều Biệt-Kích quân rằng ... họ sẽ tiếp tục làm những người vô-dụng. Những quân nhân Biệt-Kích bị để ý được thông báo nên&lt;br /&gt;chuẩn bị sẽ có cán-bộ thăm viếng bất ngờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ðến tháng 12, những ai vẫn còn bị giam ở K1 được chuyểnvề nhà giam Trung-Ương số 3 trong quận Tân-Kỳ, tỉnh Nghệ Tĩnh. Trong muà thu năm 1987, bẩy quân nhân Biệt-Kích cuối cùng được trả tự do&lt;br /&gt;để trở về nhà. Trong đó có Nguyễn-hữu-Luyện, một người chống đối đến cùng. Một Biệt-Kích quân bị giam 15 năm kể lại câu chuyện 'Ngày Trở Về' của anh như sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi còn nhớ lúc xuống tới ga xe lửa Saigon. Lúc đó trời đã tối, tôi biết không thể nào về thẳng nhà được vì đã không liên lạc với mẹ tôi trong 15 năm. Chúng tôi được phép viết thư báo tin cho gia đình từ năm 1976, nhưng không tin, cho rằng đây cũng lại trò bịp bợm của bộ Nội Vụ. Có người trong nhóm được thân nhân thăm viếng, đặc biệt những người có thân quyến ở ngoài Bắc. Hầu hết anh em chúng tôi không muốn gia đình mình phải chi tiêu một số tiền tốn kém cho chuyến đi ra tận ngoài Bắc thăm viếng. Chúng tôi cũng có thể dấu thư, nhờ người đi thăm đem ra ngoài gửi về nhà báo tin. Những người đi thăm nuôi thường rất có cảm tình và có vẻ thương xót cho những người tù Biệt-Kích trong miền&lt;br /&gt;Nam ra bị bắt. Riêng cá nhân tôi không viết gì cả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi đi bộ từ trung tâm thành phố Saigon về nhà mẹ tôi. Tôi tránh đi trên đường sợ gặp phải trạm kiểm soát. Rốt cuộc tôi vẫn không có giấy tờ tuỳ thân và giấy phép đi đường đã quá hạn. Tôi dừng lại trong&lt;br /&gt;một quán cà-phê bên đường, đối diện với căn nhà năm xưa của mẹ tôi. Tôi ngồi im-lặng trong đó vài tiếng đồng hồ chờ đợi trước khi trời sáng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rất khó cắt nghiã được cảm xúc của tôi, sau 15 năm tù đầy trong những trại cải tạo laođộng, e rằng tôi có những hành động, phản-ứng khác thường. Trời vưà tảng sáng, mẹ tôi từ trong căn nhà yêu dấu đi ra. Tôi vẫn ngồi yên lặng nhìn mẹ tôi, rồi đảo mắt xung quanh xem có ai ở gần không? Không một bóng&lt;br /&gt;người, tôi cảm thấy an-toàn...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi bước theo sau mẹ tôi một quãng ngắn, sau đó bước lên đi song-song bên cạnh mẹtôi. Ði được chừng vài bước, tôi vẫn chưa biết định nói gì với người. Mẹ tôi dường như  linh cảm có người đi bên&lt;br /&gt;cạnh, bà ngừng lại vài giây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi nhìn mẹ tôi, thốt lên 'Mẹ!&lt;br /&gt;Con đây!'.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sửng-sốt, bà nhìn tôi vài giây rồi nắm lấy tay tôi dắt trở về nhà. Chuyện xẩy ra như ngày xưa, khi tôi còn là đưá trẻ làm điều bậy ngoài đường, bị mẹ lôi về nhà. Vào đến nhà trên, bà dắt tôi đến trước bàn&lt;br /&gt;thờ ông bà. Trên bàn thờ có tấm ảnh của cha tôi và bên cạnh là bức hình của tôi. Mẹ tôi nhìn tôi nhìn tấm ảnh trên bàn thờ rồi lại nhìn tôi, nhìn tấm ảnh. Sau cùng bà nói khẽ,&lt;br /&gt;giọng run run 'Con ơi! ... Mẹ nghĩ rằng con đã chết rồi!'.&lt;br /&gt;Cuối cùng tôi đã trở về nhà, tôi không còn biết nói gì thêm. Anh hùng Biệt-Kích Nguyễn-văn-Hinh, quay mặt ra cửa sổ... nghẹn ngào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi Tourison viết cuốn 'Ðạo Quân Bí Mật, Trận Chiến Bí Mật', hơn một trăm Biệt-Kích quân đả đến định cư tại Hoa-Kỳ. Gần hai trăm người khác vẫn còn ở Việt Nam, cũng như hàng trăm quả-phụ, cô nhi của các Biệt-Kích quân. Nguyễn-hữu-Luyện, người tổ chức, huấn luyện toán HECTOR được trả tự do sau 21 năm bị giam cầm. Ông ta vượt biên không thành côngvà bị bắt lại. Ðầu năm 1992, ông được trả tự do và được phép rời Việt Nam qua Hoa-Kỳ. Hiện nay ông cùng vợ đang sống tại phiá đông thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một người khác trong nhóm bẩy quân nhân Biệt-Kích được thả cuối cùng, Quách Rạng thuộc sắc tộc Mường đến Hoa-Kỳ năm 1992, sống tại thành phố Chamblee, tiểu bang Georgia. Vợ ông là ba ø Ngọc Ban, một người đàn bà rất can đảm, đã nói chuyện với một nhóm 400 người Việt Nam ở Atlanta. Bà kể lại câu chuyện lúc được tin chồng mất tích, nhận lãnh lương tử tuất của chồng, nhưng vẫn tiếp tục mong chờ người chồng trở về. Bà ta biết rằng ông ta sẽ trở về.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những Biệt-Kích quân khác cũng đã vượt Thái Bình Dương đến định cư trên khắp các tiểu bang cuả Hoa Kỳ, từ Boston đến Seattle. Trong đó có Mai-nhuệ-Anh trưởng toán HECTOR 2, Quách Nhung&lt;br /&gt;người sống sót duy nhất trong toán HORSE, Trương-tuấn-Hoàng người cuối cùng nhẩy ra bắc tăng cường cho toán REMUS và Hà-văn-Chấp trưởng toán CASTER cùng với toán viên Ðinh-Anh, toán&lt;br /&gt;đầu tiên được CIA thả ra miền Bắc. Lê-văn-Bưởi đến Hoa-Kỳ năm 1993, khi tôi đang viết sách, ông Bưởi đang điều trị ung thư ở Utica, New York.Ông ta bị bệnh ung thư ở cổ và có lẽ không sống lâu để đọc cuốn tài liệu này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lê-văn-Ngung trưởng toán HADLEY hiện đang làm khuôn mẫu cho hãng Kirk &amp;amp; Stieff trong thành phố Baltimore tiểu bang Maryland. Toán viên của ông ta là Vũ-viết-Tịnh hiện đang dọn dẹp trong một bệnh viện ở Indiana và đã lập gia đình vào tháng 12 năm 1994. Nguyễn Không trôi dạt vào bãi biển ngoài Bắc Việt cùng với thuỷ thủ đoàn chiếc tầu đổ bộ NAUTILUS 7, hiện đang đánh tôm cá ngoài khơi vịnh Mễ-Tây-Cơ thay vì đưa người xâm nhâp trong vùng vịnh Bắc Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bùi-minh-Thế trong toán BECASSINE vượt biên thành công, đến định cư ở Henderson Louisiana. Vài&lt;br /&gt;năm trước đây, ông gặp lại người vợ sau bao năm xa cách. Hiện giờ ông lâm trọng bệnh, nằm liệt giường và có lẽ không có dịp đọc những điều tốt, ca tụng sự can trường củaông ta. Ðặng-công-Trình toán phó toán SCORPION, một trong những người bất khuất, chống đối đến cùng, hiện đang làm trong một nhà kho ở California. Bạn đồng nghiệp chắc không biết về thành tích quá khứ của ông ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuý, vợ Trịnh-văn-Truyên, thuỷ thủ chiếc NAUTILUS 3, đến định cư với chồng ở Biloxi, tiểu bang Mississippi và Truyên trở lại nghề biển. Thuý bị bắn ở New Orleans, tiểu bang Louisisana hôm 31&lt;br /&gt;tháng Bảy năm 1990 trong một vụ cướp. Bọn cướp chỉ lấy được chiếc bóp đầm không có tiền. Lúc đó bà ta đang có thai bẩy tháng, đứa bé chưa sinh chết. Bà ta là một người đàn bà cứng cõi nhưng không cứng hơn người đàn ông bà cưới lúc ông ta sống trong ngục tù. 'Nếu tôi biết được những chuyện mà giờ đây tôi tin là sự thật, tôi đã cho nhiều tay vềvườn'. Tướng Westmoreland, cựu tư  lệnh Quân-Lực Hoa-Kỳ tại Việt-Nam 1964-1968.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một trong những người đầu tiên rời Việt-Nam là Nguyễn-Văn-Hinh, toán viên trong toán Atila, anh ta vượt biển đến trại tỵ-nạn ở Singapore. Lúc phỏng vấn định cư, người Hoa-Kỳ không tin câu chuyện&lt;br /&gt;thời gian bị cầm tù ngoài miền Bắc của anh và từ chối. Không những thế, họ còn nghi ngờ anh là phạm&lt;br /&gt;nhân đã tạo dựng nên một nhân vật không có thật. Trong thời gian sống trong trại tỵ nạn, anh gặp một cô, trước là một nữ tu-sĩ, nhưng sau đó thôi vì cộng sản không cho phép. Hai người lập gia đình và đến định cư ở Hoà-Lan. Anh Hinh rất ít viết thư, lý do anh đã phải viết quá nhiều những bản tự kiểm thảo trong tù. Ðó cũng là điều dễ hiểu. Hai biệt kích quân khác, TrầnVăn-Tư và Nguyễn-Văn-Lực đến định cư ở Úc-Ðại-Lợi. Anh Tư vẫn còn vết sẹo nơi mắt cá chân lúc anh bị cùm ở trong tù, lần đó tưởng anh ... không qua khỏi. Vết thương ghê gớm làm cho chân anh có tật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn nhiều anh hùng biệt kích nữa, sẽ kể chuyện của họ cho chúng ta. Mai-Văn-Học, Hoàng-Văn-Chương trong các toán Strata. Lầu-Chí-Chấn, Châu-Hềnh-Xương, Lý-Si-Lâu, Vũ-Ðức-Gương, và&lt;br /&gt;những biệt-kích Người-Nhái khác đã lướt sóng xâm nhập hải phận miền bắc Việt-Nam trong vịnh Bắc Phần. Năm1986, Vũ-Ðức-Gương làm đơn khiếu nại trả lương trong thời gian anh bị giam cầm gần 20&lt;br /&gt;năm ngoài miền bắc. Toà án cho rằng không đủ chi tiết về cuộc hành quân, và lý do tài liệu về biệt-kích quân của bộ quốc-phòng vẫn còn trong thời gian bảo mật. Giờ đây, lý do này không còn là vấn-đề&lt;br /&gt;trở ngại. Hầu hết các biệt-kích quân đã định cư, cố gắng xây dựng gia đình, nhiều người thành công. Thỉnh thoảng, họ gặp lại nhau, bên ly rượu, các biệtkích quân tâm sự về thời gian đã qua, những người bạn đã ... ra đi, và những người còn lại vẫn tin vào định mệnh. Khi họ bị bắt ngoài bắc, gần hết&lt;br /&gt;đều còn độc thân, tuổi tác trong khoảng hai mươi. Giờ thì đã lớn tuổi, có người nhuộm tóc để trẻ lại thêm ít tuổi, họ là những công dân tốt trong xã hội. Khi đàn con cháu của họ lớn lên đọc những trang giấy này sẽ hiểu biết thêm về cha, ông của chúng.&lt;br /&gt;Nhiều biệt-kích quân khác kém may mắn. Hoàng Ngọc-Chính, Ðoàn Phương và Nguyễn Văn Lý quá chán chờ đợi giới chức thẩm quyền trả lời. Họ tìm cách vượt biên, Phương và Lý đi đường biển,&lt;br /&gt;Chính theo đường bộ băng qua đất Miên. Cả ba anh hùng biệt-kích đều mất tích cho đến nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lê-Trung-Tín trong toán Red Dragon từ bên Tầu quay trở lại Việt-Nam. Hiện nay anh lo thuyết phục giới chức phỏng vấn của sở Di-Trú Hoa-Kỳ ở Saigon về câu chuyện của anh. Anh Tín cùng chiến hữu&lt;br /&gt;của anh là Vòng-A-Cầu đã làm nhiệm vụ của người quân nhân. Họ vượt ngục, và cũng là hai người đầu tiên sống sót, trốn khỏi trại tù nơi miền bắc Việt-Nam. Sở di-trú Hoa-Kỳ cho rằng họ chưa ở tù cộng sản đủ thời gian nên không hội đủ điều kiện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một người kém may kháclà Hoàng-Ðình-Mỹ trong toán Hector. Trong tháng 12 năm 1984, anh đứng trước toà án nhân-dân tại Saigon lãnh án vì tội tham gia kháng-chiến do Lê-Quốc-Tuý bên Pháp lãnh&lt;br /&gt;đạo. Năm 1995, anh Mỹ vẫn còn bị giam trong trại tù ởNha-Trang. Ðược thả về từ  trại tù Thanh-Lam ngoài miền bắc năm 1981, anh trở về mái nhà xưa trong miền nam, sau đó qua Thái-Lan gia nhập tổ&lt;br /&gt;chức kháng chiến. Năm 1982, anh quay về Việt-Nam và bị bắt trong vòng một tuần. Nguyễn-Văn-Tân toán Romeo, người bị đánh đập tàn nhẫn nhất trong vụ tuyệt thực phản đối chế độ lao tù năm 1973. Nộp đơn xin trợ cấp tật-nguyền khi đến định cư ở Hoa-Kỳ. Năm 1988, vị bác-sĩ khám bệnh cho anh Tân cho biết 'Tâm thần của anh có điều gì không hay! (Không làm việc bình thường nữa)'.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lương-Văn-Inh trong toán Dog, lên vùng cao nguyên trong miền nam lập nghiệp nơi quân Ðức-Trọng gầnthành phố nghỉ mát Ðà-Lạt. Ðầu tháng Sáu năm 1994, anh trở xuống vì bệnh sốt rét tái phát trầm trọng. Vị y-sĩ địa phương khuyên vợ anh nên đưa anh vào nhà thương. Giữa cơn mưa bão, lúc nửa đêm hai người con trai của anh cùng hai dân làng võng anh từ trên đồi xuống một con đường cách xa khoảng bốn cây số. Anh chết trên đường đi. Vợ anh viết thư cho tác giả Tourison 'Ðiều duy nhất,&lt;br /&gt;chồng tôi muốn là các con tôi được ăn học và được tự do... bây giờ anh không còn nữa'.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thượng-Tá Nguyễn-Sang giám đốc cục trông-coi các trại tù ở Hà-Nội trong năm 1979 đã về hưu năm 1982. Trung-Tá Tô-Bá-Oanh chỉ huy trại tù lao động cải tạo Hồng-Thắng lên Ðại-Tá và chỉ huy&lt;br /&gt;nhà tù trong tỉnh Sông Bé, ông ta quản lý tù hình sự thay vì các tù biệt-kích năm xưa. Câu chuyện về biệt-kích quân có lẽ còn lâu mới kết thúc. Ngày 23 tháng Ba năm1995, vị Ðại-Sứ Hoa-Kỳ bên&lt;br /&gt;Thái-Lan gửi một văn thư dài năm trang giấy đến bộ ngoại giao và sở di-trú đặt câu hỏi tại sao hầu hết biệt-kích quân còn sống sau năm 1975 bị sở di trú bên Thái-Lan từ chối? Kết quả tháng Năm 1995, sở di-trú Hoa-Kỳ đã phải thay đổi điều kiện nhập cảnh cho các cựu biệt-kích quân Việt-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước đó ngày 14 tháng Tư, tờ New York Times đăng bài viết của Tim Weiner về nhữngcố gắng của vị Ðại-Sứ trong việc sửa sai sở di trú. Vài hôm sau, câu chuyện về biệt kích quân được cả thế giới chú-ý. Cựu tư lệnh quân lực Hoa-Kỳ tại Việt-Nam, tướng William C. Westmoreland, Thiếu-Tướng John Morrison, Chuẩn-Tướng George Gaspard, Thượng Nghị-Sĩ John McCain, và nhiều giới chức quan trọngkhác viết thư cho vị Ðại-Sứ, bầy tỏ sự ủng hộ ông ta. Thượng-nghị-sĩ McCain còn viết thư gửi thẳng cho sở di trú Hoa-Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 24 tháng Tư năm 1995, John Mattes một luật sư ở Miami Florida đưa đơn kiện chính-phủ Hoa-Kỳ nơi toà án liên-bang ở thủ đô HoaThịnh-Ðốn. Ðơn thưa này đòi bồi thường cho 281 cựu biệt kích quân bị giam cầm hoặc đã chết trong các trại tù nơi miền bắc Việt-Nam. Chính phủ Hoa-Kỳ phải trả lương&lt;br /&gt;cho họ xứng đáng theo đúng bản hiệp-đồng tuyển mộ các biệt-kích quân Việt-Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tài liệu 'Secret Army Secret War' tác giả Sedgwick Tourison.&lt;br /&gt;Carrollton, TX. 16-04-2000&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cọp Khánh-Hòa &lt;/strong&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6146560027434607274-4973090011961135081?l=tranchienbimat.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/feeds/4973090011961135081/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=6146560027434607274&amp;postID=4973090011961135081' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/4973090011961135081'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6146560027434607274/posts/default/4973090011961135081'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranchienbimat.blogspot.com/2009/06/ngay-tro-ve-phan-1-69.html' title='Ngày trở về (phần 1) 69'/><author><name>Nha Kỹ Thuật</name><uri>http://www.blogger.com/profile/00058869536112748808</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='26' height='32' src='http://1.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SKrYhjfyioI/AAAAAAAAC0w/Z-Pv_vtrYCM/S220/phamhoasize07.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/Sk5Y-DPyJAI/AAAAAAAAEk0/QiA4vx-INCQ/s72-c/llhtcau.gif' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6146560027434607274.post-8652213554743956758</id><published>2009-06-30T12:36:00.001-07:00</published><updated>2009-12-01T09:43:51.490-08:00</updated><title type='text'>LLDB trên chiến trường Việt-Nam. 76</title><content type='html'>&lt;span style="FONT-WEIGHT: bold"&gt;&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmVarrbAyHI/AAAAAAAAFKo/UThwWxgvQbg/s1600-h/Delta_Project.jpg"&gt;&lt;img id="BLOGGER_PHOTO_ID_5360790637891340402" style="DISPLAY: block; MARGIN: 0px auto 10px; WIDTH: 400px; CURSOR: hand; HEIGHT: 398px; TEXT-ALIGN: center" alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_aH1bx2ubVuk/SmVarrbAyHI/AAAAAAAAFKo/UThwWxgvQbg/s400/Delta_Project.jpg" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;I. LỜI GIỚI THIỆU.&lt;br /&gt;Kể từ lâu, năm 1957 đã có quân của LLĐB/HK tại Việt-Nam, lúc đó họ chỉ làm nhiệm-vụ Huấn-luyện, cố-vấn và giúp-đỡ quân-đội VNCH. Các biệt-kích mũ xanh phải tình nguyện hai lần, lần đầu học nhẩy dù và sau đó học về LLĐB. Trong năm 1957, ngày 24 tháng sáu, liên-đoàn 1LLĐB được thành lập tại Okinawa và gửi sang Việt-Nam huấn luyện cho 58 quân nhân Việt-Nam tại Trung-tâm huấn-luyện Biệt-Động-Đội ở Nha-Trang. Những sĩ quan thụ Huấn đó sau này trở thành huấn luyện viên hoặc cán bộ nồng cốt cho các Đơn-vị đầu tiên của LLĐB/VN. Mười năm sau LLĐB cố-vấn và yểm trợ cho hơn 40.000 Dân sự Chiến-đấu, hoạt động trên khắp lãnh thổ miền nam Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;II. PHÁT TRIỂN.&lt;br /&gt;Trong năm 1959, 1960 với sự bành trướng của Việt cộng, gia tăng các vụ phá hoại, khủng bố gây nên tình trạng bất an nơi thôn quê, hẻo lánh. Quân đội Hoa Kỳ gửi thêm bamươi huấn luyện viên LLĐB từ căn cứ Fort Bragg sang nam Việt Nam để tổ chức một chương trình huấn luyện cho QLVNCH.&lt;br /&gt;Ngày 21 tháng chín 1961, tổng-thống John F. Kenedy tuyên bố sẽ tăng thêm ngân khoản viện trợ quân-sự, kinh tế cho Việt Nam. Chính quyền Hoa-Kỳ lo ngại về vấn đề xâm nhập người và vũ-khí của quân cộng-sản vào miền nam, do đó phải tìm cách ngăn chặn sự xâm nhập này. Các toán A Lực-lượng Đặc-biệt được giao phó cho trách nhiệm tổ chức và huấn-luyện những dân-tộc thiểu-số phá hoại, ngăn chặn đường xâm nhập của địch từ bắc vào nam. Về sau những lực lượng võ trang này được gọi là Dân-sự Chiến-đấu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Liên-đoàn 5 LLĐB/HK được gửi sang Việt Nam và hoàn toàn chịu trách nhiệm cho các hoạt-động, hành quân đặc biệt tại miền nam. Lực-lượngĐặc-biệt được Lục quân Hoa-Kỳ tổ chức nhằm thích ứng cho các cuộc hành quân ngoại lệ và đã được định nghiã như 'ba khía cạnh liên-hệ trong du kích chiến, trốn tránh và đào tẩu, gậy ông đập lưng ông chống lại kẻ thù'. Chiến tranh ngoại-lệ được định nghiã như sau ' Hoạt động ngay tron glòng địch, hoặc những nơi địch kiểm soát'.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cơ-cấu tổ chức căn bản của Liên-đoàn Lực-lượng Đặc biệt gồm có một bộ chỉ huy đầu não, ban chỉ huy các đại đội, ba đại-đội hoặc nhiều hơn, một đại đội truyền tin và một phi-đoàn yểm trợ. Các bộ, ban chỉ huy gồm đủ các ban tham-mưu để chỉ huy và theo-dõi, thêm phần quân-y,và đơn vị tiếp-tế thả dù. Đại đội LLĐB thường do một sĩ quan cấp bậc trung-tá chỉ huy, thường gồm có một ban tham mưu và một BCH hành-quân C, bộ chỉ huy này sẽ chỉ huy ba BCH/HQ B, mỗi BCH/HQ B sẽ chỉ huy bốn toán A. Toán A là một đơn-vị căn bản mười hai người của LLĐB.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;III. LỰC LƯỢNG DÂN SỰ CHIẾN ĐẤU.&lt;br /&gt;Có hai lý do cho việc tổ chứcDSCĐ. Người Hoa Kỳ tin rằng nên võ trang nhóm dân tộc thiểu số để chống lại sự xâm nhập của quân cộng-sản. Lý do thứ hai, người Thượng và các sắc dân thiểu số là mục tiêu chính cho chủ thuyết tuyên truyền của cộng-sản, họ không hài lòng về chính quyền quốc-gia, rất dễ bị địch lợi dụng, tuyển mộ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng Chín 1962, bộ chỉ huy LLĐB tại Việt-Nam được thành lập và trực thuộc Bộ&lt;br /&gt;Chỉ-Huy Quân-Viện. Đến tháng mười 1962, có tất cả hai mươi bốn toán LLĐB/HK hoạt&lt;br /&gt;động trên miền nam Việt-Nam. Tháng mười một 1962,LLĐB/HK tại Việt-Nam được tổ chức gồm có một BCH C, ba BCH B và hai mươi sáu toán A. Ngoài ra còn có một bộ chỉ huy đặt tại Saigon. BCH C không làm việc bình thường trên phương diện chỉ huy, điều hành mà làm nhiệm-vụ như phần mở rộng của BCH trung-ương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời gian từ tháng mười hai 1962 đến tháng hai1963, BCH/LLĐB/HK hoàn toàn chịu trách nhiệm chỉ huy các hoạt động của các toán A tại Việt-Nam. Lúc đó các toán A đã thiết lập các trại Dân-sự Chiến-đấu trên khắp bốn quân khu. Một BCH B được thành lập trên mỗi vùng chiến thuật để phối hợp với hệ thống chỉ huy của QLVNCH và chỉ-huy các toán A. Các toán A được xử dụng tạm thời lấy từ Liên-đoàn 1 từ Okinawa, và Liên-đoàn 5, 7 LLĐB từ Fort Bragg, NorthCarolina. Đến tháng mười hai 1963, các toán A phối hợp vớiLLĐB Việt-Nam đã huấn luyện và võ trang cho 18000 người thuộc lực lượng xung kích và 43000 người phòng vệ dân-sự. Tháng hai 1963, bộchỉ huy LLĐB/HK từ Saigon dời đi Nha-Trang do hai điều thuận-lợi, thứ nhất, Nha-Trang nằm vào khoảng giữa từ vĩ-tuyến 17 đến cuối miền nam, dễ điều hành các toán A nằm rải rác khắp miền nam Việt Nam. Thứ hai, vị trí nơi biển dễ nhận đồ trang bị, tiếp liệu đến từ Okinawa và phi Trường, đường xá có sẵn cho vấn đề tiếp vận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối năm 1964, Lực lượng Dân-sự Chiến-đấu không còn là vấn đề phát triển nữa. Mục&lt;br /&gt;đích và nhiệm vụ cũng thay đổi, không ngoài việc phòng vệ xóm làng, các trại DSCĐ&lt;br /&gt;được xử-dụng làm căn cứ cho các cuộc hành quân tấn công vào sào huyệt địch. Sự thay&lt;br /&gt;đổi lớn thứ hai nhằm tăng phần hiệu qủa cho việc kiểmsoát biên giới, LLĐB/HK xây&lt;br /&gt;thêm một số trại Biên-phòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc hành quân Switchback (11-62 đến 0762), các hoạt động tấn công thuộc lực lượng xung-kíchDSCĐ bao gồm phục-kích, tuần-tiễu, thám-sát trong khu vực trách nhiệm của mỗi trại. Ngoài ra những cuộc hành quân phối hợp với các đơn-vịVNCH bao gồm LL/DSCĐ&lt;br /&gt;thuộc nhiều trại. Trong tháng sáu, bốn đại đội xung kíchDSCĐ lấy từ các trại Đak-To,&lt;br /&gt;Plei-Mrong và Polei Krong phối hợp hành quân lùng địch. Quân cộng-sản phản-ứng bằng cách pháo kích, quấy rối các trại biên-phòng. Trong cuộc hành-quân Switchback, các hoạt-động địch gia tăng, hầu hết các trại đều bị bắn quấy rối. Ngày 3 tháng giêng 1963, đặc-công cùng hai đạiđội CSBV tấn công và tràn ngập trại Plei-Mrong. Vấn đề phòng thủ các trại biên-phòng được xét lại, Bộ chỉ-huy Quân Viện ra lệnh cho các toán A thiết lập thêm tuyến phòng thủ thứ hai cho tất cả các tiền đồn. LLĐB/HK được tăng cường thêm hai tiểu-đoàn Công-binh Hải-quân (Seabee) phụ gíup trong việc xây cất.Việc xử-dụng LL/DSCĐ bao gồm các hoạt động tuần-tiễu, lục soát ra ngoài phạm vi trách nhiệm của trại thường cần có những căn cứ tiền phương và lực lượng tiếp-ứng. Một lực lượng xung-kích 20000 quân được thành lập bắt đầu từ tháng mười một 1963 và hoàn tất vào tháng bẩy năm 1964. Mỗi đại độiDSCĐ có 150 người gồm bộ chỉ huy 10 người và ba trung đội khinh-binh 35 người, trung đội súng nặng 35 người. Mỗi trại có quân số bốn đại đội. Hai đại đội hoạt động bên ngoài từ những căn cứ tiền phương, tung các trung đội và các toán viễn-thám năm người ra hoạt động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng giêng 1965, trước khi Hoa-Kỳ đem thêm quân vào chiến trường miền nam.Kế hoạch chống xâm nhập được xác định rõ ràng gửi đi từ bộ chỉ huy liên-đoàn 5 LLĐB/HK tới các BCH B và các toán A như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Định nghiã: Kế hoạch chống xâm nhập của LLĐB là một chương trình hỗn hợp quân-sự&lt;br /&gt;và dân-sự vụ, được tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu sau đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(a) Loại trừ Việt cộng, thiết lập vùng an-ninh.&lt;br /&gt;(b) Bảo đảm sự kiểm soát của chính quyền quốc gia đối vớidân trong vùng.&lt;br /&gt;(c) Động viên những người dân hăng hái, sẵn sàng tham gia trong các chương trình của chính quyền quốc gia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những mục tiêu nói trên có thể đạt được khi thi hành một trong ba nhiệm vụ sau:&lt;br /&gt;(1) Kiểm soát và theo dõi biêngiới.&lt;br /&gt;(2) Hoạt động nơi các đường xâm nhập.&lt;br /&gt;(3) Hành quân nơi chiến khu, căn cứ của địch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bắt đầu từ năm này, quân cộng-sản đã thay đổi chiến thuật từ du-kích sang trận-địa chiến. Các hoạt động củaLLĐB được phân làm ba loại.Một, thiết lập thêm trại DSCĐ&lt;br /&gt;nhằm ngăn chặn mức độ chuyển quân, tiếp vận của địch, bỏ một số trại do áp lực&lt;br /&gt;quá nặng của địch và phòng thủ các trại dọc theo biên giới như A-Shau, Lang-Vei, Cồn-&lt;br /&gt;Thiên, Lộc-Ninh, Bù-Đốp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thứ hai, mở các cuộc hành quân ngoại lệ như Hành-quân Delta trong vùng I chiếnthuật.&lt;br /&gt;Hành quân Black-Jack 33 ở vùng III trong kế-hoạchHành-quân Sigma. Đây là cuộc hành quân đầu tiên phối hợp giữa đơn-vị du-kích lưu động và đơn vị xung-kích tiếp ứng. Hành-quân Black-Jack 41, hai đại đội xung-kích lưu động nhẩy dù xuống tấn công căn cứ địch trong vùng núi Thất Sơn dưới vùng IV. Một đơn-vị xung-kích khác tảothanh nơi Suối Đá trong vùng III loại khỏi vòng chiến một tiểu-đoàn Việt cộng trong hành quân Attleboro. Cuối cùng là những cuộc hành quân phối hợp với các đơn vị chính-quy bạn. Hành quân Nathan Hale phối hợp giữa DSCĐ, sư-đoàn 1 Không-Kỵ và sư-đoàn 101 Dù Hoa-Kỳ. Hành quân Henry Clay và Thayer. Hành quân Rio Blanco ở vùng I bao gồmcác đơn-vị thuộc DSCĐ, Điạ phương-quân, Biệt-động-quân Việt-Nam, Thuỷ quân lụcchiến Đại-Hàn, và TQLC/HK. Hành quân Sam Houston trên vùng II phối hợp giữa sư-đoàn 4 Bộ-binh Hoa-Kỳ và DSCĐ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;IV. HÀNH QUÂN NGOẠI LỆ.&lt;br /&gt;Với sự thành lập các đơnvị du-kích lưu-động và Hànhquân Sigma, Omega trong thời gian từ tháng tám cho đến tháng mười năm 1966, khả năng về Chiến-tranh Ngoạilệ của LLĐB gia tăng. Một trong những đặc tính củaLLĐB là khả năng mở các cuộc hành quân ngắn hoặc lâu dài nơi vùng địch kiểm soát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lực-lượng Du-kích lưu-động được thành lập vào mùa thu 1966, cải tiến và phát triển từ quan niệm về đơn-vị xungkích lưu-động. Những đơn-vị du-kích này được tổ chức, huấn-luyện và trang-bị để hoạt-động xa, nơi Việt cộng hoặc Bắc quân xem như thiênđàng. Trang bị nhẹ, các quân nhân thuộc đơn-vị này xâm nhập vào vùng địch, do-thám đường mòn, tìm kiếm dấu vết, căn-cứ địch, thâu lượm tin tức tình báo về những cuộc chuyển quân của địch. Khi phát giác ra nơi đóng quân của địch, toán du-kích sẽ theo dõi các hoạt động của địch, phục kích lẻ-tẻ, quấy rối, đặt mìn bẫy. Trường hợp tìm thấy kho tiếp liệu, toán sẽ tìm cách phá hủy hoặc hướng dẫn phi cơ oanh kích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một đơn-vị du-kích thường được đưa vào vùng hoạt động bằng tất cả mọi phương tiện&lt;br /&gt;có sẵn. Khi đã vào vùng, đơnvị thực sự trở nên du-kích quân. Đồ tiếp tế được thực hiện qua không trợ. Đơn vị này thường hoạt động trong lòng địch một thời gian từ ba mươi đến sáu mươi ngày. Họ trở thành những 'Chủ nhân ông' trong khu vực hoạt động, được toàn quyền hành động kể cả vấn đề không trợ, để đạt mục tiêu. Để tránh bị lộ hành tung, đôi khi phải cho đồ tiếp tế vào bom Napalm giả do khu trục cơ A1E Skyraider thả xuống trong một phi vụ oanh kích gia3a tạo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài việc phát triển đơn-vị du-kích cho mỗi vùng chiếnthuật. Liên-đoàn 5 LLĐB/HK&lt;br /&gt;còn tổ chức thêm những cuộc hành quân ngoại-lệ khác như Hành-quân Omega và Sigma.&lt;br /&gt;Hai tổ chức hành quân trên làm tăng thêm khả năng viễnthám, thâu lượm tin-tức tình&lt;br /&gt;báo của liên-đoàn ngoài tổ chức Hành-quân Delta đã có sẵn. Mỗi tổ chức có quân số&lt;br /&gt;khoảng 600 người, gồm một đơn-vị viễn-thám và một đơnvị xung-kích tiếp-ứng, thêm&lt;br /&gt;một toán cố-vấn tổ chức như BCH B của LLĐB.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hành quân Delta được đặt dưới quyền chỉ huy hỗn hợpLLĐB Việt-Mỹ và theo lệnh trực tiếp của Bộ Tổng-tham mưu QLVNCH và BCH Quân Viện Hoa-Kỳ (MAC-V). Các toán hành quân Delta được tiểu-đoàn 91 Biệt-cách-dù sẵn sàng làm lực-lượng tiếp-ứng yểm-trợ. Các toán hành-quânOmega và Sigma được LLĐB trực tiếp chỉ huy và chỉ chịu trách nhiệm hoạt động ngoài vùng I và II chiến thuật. Các toán này được các đơn vị xung-kích lưu-động thuộc lựclượng DSCĐ yểm trợ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;V. HUẤN LUYỆN VÀ KHÔNG TRỢ&lt;br /&gt;Chương trình huấn-luyện cho các cuộc hành-quân ngoại-lệ trước hết là phần huấn luyện về bộ-binh, kỹ thuật tác chiến trong vùngĐông-nam-Á. Những quân nhân được tuyển chọn cho&lt;br /&gt;hành-quân ngoại-lệ thường đã trải qua thời gian phục-vụ trong lực-lượng DSCĐ và đã có kinh nghiệm chiến-đấu. Phần huấn luyện kỹ thuật hành quân ngoại-lệ bắt đầu từgiai đoạn này. Đầu tiên là phải qua khóa huấn luyện nhẩy-dù, sau đó là các môn học đặc biệt về hành quân như: di-chuyển lặng-lẽ, bímật, phương-pháp tìm dấuvết, theo-dõi, cách xử-dụng bản đồ, điạ bàn, dụng-cụ làm dấu, những kỹ thuật xâm nhập, triệt-thoái vùng thám sát, hoạt-động, xử dụng các loại vũ-khí đặc biệt, cứu thương, kỹ thuật đột-kích, phục kích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chương trình huấn luyện kéo dài năm hay sáu tuần-lễ, sáu ngày một tuần và khoảng&lt;br /&gt;mười tiếng đồng hồ mỗi ngày. Các buổi huấn luyện trong căn-cứ và thực tập ngoài bãi&lt;br /&gt;tập.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vấn đề hành-quân ngoại lệ rất cần phần không trợ. Phi đoàn không-yểm thuộc Lục&lt;br /&gt;quân Hoa-Kỳ biệt phái choLiên-đoàn 5 LLĐB đã yểm trợ trực tiếp bằng những trực&lt;br /&gt;thăng võ trang và chuyển vận. Ngoài ra Không lực Hoa-Kỳ cung cấp phương tiện chuyển&lt;br /&gt;vận, đổ quân cấp đơn-vị lớn và về tiếp liệu. Không lực Hoa-Kỳ và Việt Nam còn yểm&lt;br /&gt;trợ thêm về phần oanh-kích hoặc chuyển tiếp công-điện qua hệ thống truyền tin.&lt;br /&gt;Ngoài vùng I chiến thuật, máy bay của Thuỷ quân Lục chiến Hoa-Kỳ cũng cung cấp những&lt;br /&gt;phương tiện yểm trợ tương tự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;VI. SOẠN THẢO KẾ HOẠCH HÀNH QUÂN.&lt;br /&gt;Chiến tranh ngoại lệ là một vai trò rất quan-trọng củaLLĐB trên chiến trường nam&lt;br /&gt;Việt Nam. Ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt, mỗi cuộc hành quân đều được soạn&lt;br /&gt;thảo, điều nghiên kỹ-lưỡng trước khi thực hiện và lực lượng tham-dự được di&lt;br /&gt;chuyển đến căn cứ tiền phương trước khi ra tay. Thời gian dành cho soạn thảo kế&lt;br /&gt;hoạch, chuyển quân tuỳ theo mỗi loại hành quân và độ khẩn của cuộc hành quân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Soạn thảo lệnh hành quân bắt đầu với đầy đủ chi tiết tình báo về khu vực hành quân.&lt;br /&gt;Mọi dữ kiện về điạ thế, thời tiết và những nơi tình nghi có quân địch đều được thâu thập và phân tích. Tất cả những chi tiết đó đều được ghi trên bản đồ, những lộ trình chính và phụ cho nhiệm-vụ trinh sát đều được chọn lựa và đánh dấu. Nguồn tin tức thường được lấy từ các bản báo cáo về tình-báo, không ảnh, thẩm vấn tù binh, và những bản báo cáo của các đơn-vị bạn đã hành quân qua trước đây. Nếu cần, ban tham mưu soạn thảo lệnh hành quân bay những phi-vụ thám thính khu vực hoạt động trước. Những chuyến bay này rất quan trọng cho quyết định cuối cùng chọn điểm xâm nhập, triệt xuất, chính và phụ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi việc soạn thảo, điều nghiên đã hoàn tất, lệnh hành-quân sẽ được ban ra. Kế tiếp là việc chuẩn bị hành quân, trường-hợp cần thiết phải chuyển quân, vật liệu đến một căn cứ tiền phương đã có không yểm. Nếu chỉ là một toán nhỏ, ít vật liệu, phi cơ trực thăng của Lục quân, TQLC/HK hoặc phi-cơ nhỏ được xử dụng. Nếu cuộc hành quân với quân số cấp đại đội hoặc lớn hơn sẽ được Không lực Hoa-Kỳ cung cấp với loại&lt;br /&gt;phi-cơ vận tải C-7A hoặc C130. Khi đến căn-cứ hành-quân tiền phương, đơn-vị sẽ bị&lt;br /&gt;thanh-tra để có thể trong vị thế sẵn sàng. Các sĩ quan thuộc quyền sẽ được nghe&lt;br /&gt;thuyết trình về mục đích, nhiệm-vụ của cuộc hành quân cùng vớí mệnh-lệnh chi tiết&lt;br /&gt;cho từng trung đội, tiểu-đội hoặc toán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong những nhiệm-vụ thám sát, các phương-pháp, thủ tục cho mỗi hoạt-động sẽ được&lt;br /&gt;trình bầy chi-tiết tùy theo cuộc hành quân. Khi vào vùng địch, lúc ra khỏi phi-cơ, di chuyển trong khu vực hành quân, trường hợp chạm địch, và giờ giấc cho vấn đề triệt xuất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự thành công trong chiến tranh ngoại lệ tùy thuộc rất nhiều vào yếu-tố bất ngờ.&lt;br /&gt;Thêm vào phần an-ninh của toán biệt-kích, nhiều lúc cần phải tìm cách đánh lừa địch&lt;br /&gt;quân. Lừa đối phương cũng là một phần quan trọng trong các cuộc hành quân. Tùy theo tình hình, thời tiết, mùa màng và quân số trong cuộc hành quân mà thực hiện các chuyến xâm nhập bằng đường bộ, không hoặc tủy. Tuy nhiên trên chiến trường Việt-Nam, hầu hết các cuộc xâm nhập, triệt xuất đều thực hiện bằng phương tiện trực thăng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kinh nghiệm cho biết, thời gian hữu hiệu nhất để thả toán xâm nhập vào lúc trời sắp tối, đủ thì-giờ cho toán lẩn vào bóng tối và trực thăng được bảo vệ bởi bầu trời đen. Tuy vậy, địch quân vẫn khám phá ra phương pháp thả toán của ta và tìm cách đối phó. Do đó phải đánh lừa địch về điểm thả quân, trực thăng sẽ đáp xuống ba chỗ hay hơn nữa trước khi thực sự thả toán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều này làm cho địch phân vân không biết đâu là điểm thả quân một cách chính xác.&lt;br /&gt;Một phương pháp khác là đoàn trực thăng ba chiếc bay thấp, nối đuôi nhau, chiếc bay&lt;br /&gt;đầu bất ngờ đáp xuống thả toán biệt-kích trong chớp nhoáng rồi bốc lên nhanh nối&lt;br /&gt;vào đuôi hai chiếc kia làm thành hợp đoàn ba chiếc trở lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong trường hợp thảtoán bằng đường bộ, các toán 'Chạy đường mòn' (Roadrunner), viễn thám xâm nhập vùng địch dễ dàng lúc trời tối hoặc ngay lúc ban ngày trong trường hợp căn cứ vẫn thường tung các toán ra tuần tiễu, lục soát mà không theo một phương hướng nhất định. Trong trường hợp khác, toán viễn thám đi xen vào với một đơn vị lớn. Khi thấy an toàn, toán biệt-kích lặng lẽ di chyển đến vùng hoạt động đã&lt;br /&gt;được trao phó nhiệm-vụ từ trước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả mọi sự di-chuyển trong chiến tranh ngoại lệ đều được soạn thảo cẩn thận. Sự&lt;br /&gt;sống còn của một toán viễn thám nhỏ tùy thuộc vào mỗi cá nhân trong toán. Sự hiểu&lt;br /&gt;biết về nhiệm-vụ của từng người, đề cao cảnh giác, theo đúng thời khóa biểu lúc di&lt;br /&gt;chuyển. Trong kế hoạch hành quân đôi khi có dặn dò thêm trường hợp toán phải phân tán tạm thời trước áp lực của địch, thời gian, vị trí của điểm hẹn, tập-họp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bí mật là đặc tính căn bản trong vấn đề di chuyển của các đơn-vị hành quân ngoại&lt;br /&gt;lệ. Mặc dầu địch cũng đề phòng về sự hiện diện của biệt-kích quân, điều quan trọng là địch vẫn không biết rõ vị trí chính xác của toán. Mọi di chuyển phải im-lặng,&lt;br /&gt;bàn tay và thủ hiệu được xử dụng để truyền tin và ban lệnh thay cho lời nói, ít xử dụng máy truyền tin và để độ âmthanh tối thiểu, súng đạn đồ trang bị gọn gàng không gây tiếng động khi chạm vào cây lá hơặc đá và tuyệt-đối giữ im lặng khi di chuyển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về vấn đề tái tiếp tế cũng được đặt ra, các quân nhân trong chiến tranh ngoại lệ&lt;br /&gt;không thể mang theo đồ ăn, đạn dược và vật dụng quá năm ngày. Tùy theo mỗi cuộc&lt;br /&gt;hành quân, kế hoạch hành quân cũng nói đến vấn đề tái tiếp tế trong vòng từ ba đến&lt;br /&gt;năm ngày tại một địa điểm định trước. Vấn đề đặt ra là sự an-toàn, không để lộ vị trí của toán. Thả dù tiếp tế ban ngày sẽ làm cho địch báo động, đề phòng. Thả ban đêm trong vùng rừng núi, cơ hội thâu hồi kiện hàng rất ít.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Triệt xuất theo đúng hạn kỳ hoặc trong trường hợp khẩn cấp phải đem về một người bị&lt;br /&gt;tai nạn bất tử hay cả toán cũng phải tính trước. Lựclượng Đặc biệt rất thành công&lt;br /&gt;từ lúc đầu cho đến giữa năm 1967, hầu hết các toán đều thi hành nhiệm vụ đúng theo&lt;br /&gt;hoạch định, hết thời gian, ra điểm hẹn để trực thăng bốc đem về. Những toán 'Chạy&lt;br /&gt;đường mòn', viễn thám rất dẽ bị địch tiêu diệt do đó nhânviên trong bộ chỉ huy có&lt;br /&gt;nhiệm vụ theo dõi hoạt độngcủa toán phải chuẩn bị sẵn sàng vấn đề triệt xuất toán&lt;br /&gt;trong vùng địch ngay tức khắc khi nhận được báo cáo 'khẩn'.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;VII. CÁC CĂN CỨ / BỘ CHỈ HUY LỰC LƯƠNG ĐẶC BIỆT. B-50 LLĐB (HÀNHQUÂN OMEGA).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dựa trên sự thành công của các cuộc hành quân Delta và nhu cầu chiến trường, bộ chỉ&lt;br /&gt;huy B-50 Lực lượng Đặc biệt tổ chức Kế-hoạch Hành-quân Omega vào tháng bẩy năm&lt;br /&gt;1966 và đặt tại Nha Trang. Hành quân Omega trực tiếp đảm nhận những cuộc hành&lt;br /&gt;quân viễn-thám, thâu thập tin tức tình báo tác chiến, tuy nhiên không như Delta trực&lt;br /&gt;thuộc bộ Tổng-tham-mưu và bộ tư-lệnh Quân-viện Hoa-Kỳ, hành quân Omega được&lt;br /&gt;thực hiện trên vùng I chiến thuật kể từ ngày 1 tháng chín năm 1967.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;B-50 LLĐB tuyển mộ các sắc tộc thuộc bộ-lạc người Jah, Rhade và Sedang, người&lt;br /&gt;gốc Chàm và Tầu. Ban đầu gồm có tám toán viễn-thám và bốn toán 'Chạy đường mòn', sau đó tăng lên mườI sáu toán viễn-thám và tám toán 'Chạy đường mòn'. Trong năm 1968, các toán 'Chạy đường mòn' thuyên-chuyểnqua B-57 LLĐB tiếp tục các hoạt động tuần tiễu lấy tin tức. Hành quân Omega có ba đại đội xung-kích làm thành phần tiếp ứng, trừ bị. Bộ chỉ huy B-50 chấm dứt nhiệm vụ tại Việt Nam vào tháng sáu năm 1972.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;B-51 LLĐB TRUNG-TÂM HUẤN LUYỆN ĐỘNG BÀ THÌN.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Động-ba-Thìn là trung tâm huấn-luyện của QLVNCH.Đến năm 1964, bộ chỉ huy B51&lt;br /&gt;LLĐB đến cố vấn cho chương trình huấn luyện tại trung tâm. Nhiều chương trình&lt;br /&gt;huấn-luyện được cải tiến theo thời gian, khóa căn-bản LLĐB Việt-Nam, khóa học&lt;br /&gt;Nhẩy dù của LLĐB, huấnluyện cho DSCĐ, võ Tae Kown Do Đại-Hàn, truyền-tin&lt;br /&gt;và các khóa huấn luyện khác.Năm 1968, B-51 LLĐB dời các khóa huấn luyện đi An-&lt;br /&gt;Khê, nhưng đến tháng mười1969 quay trở lại Động-ba-Thìn và căn-cứ được gọi là&lt;br /&gt;Trung-tâm Huấn-luyện Quốc gia. Sau đó B-51 được Bộ chỉ huy Quân-viện giao cho&lt;br /&gt;nhiệm-vụ huấn-luyện quân đội Campuchia. Bộ chỉ huy B50 LLĐB rời Việt-Nam tháng&lt;br /&gt;ba năm 1971.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;B-52 LLĐB HÀNH QUÂN DELTA.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào tháng năm 1964, cơ quan tình-báo CIA khởi đầu chương trình Leaping Lenadùng LLĐB/HK huấn luyệncho LLĐB/VN và lực-lượngDSCĐ trong những nhiệm-vụ thám-sát thâu-thập tin tức. Khi chương trình phát triển, nhu-cầu về nhân lực của LLĐB/HK tăng lên cho đến tháng sáu năm 1965, khi liênđoàn 5 LLĐB/HK được giao phó thêm rách-nhiệm và bộ chỉ huy B-52 được thành thập để chỉ-huy và theo dõi các hoạt động viễn-thám. Chương trình này được gọi là Hành quân Delta, mỗi toán thường gồm có hai Quân-nhân LLĐB/HK và bốn LLĐB/VN, ngoại trừ các toán 'Chạy đường mòn' có từ bốn đến sáu quân nhân Việt, thường mặc quần áo, trang-bị như quân cộng-sản hoạt động trong vùng địch kiểm soát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bộ chỉ huy B-52 vẫn thường thay đổi lề-lối làm việc, tổ chức tùy theo nhu-cầu đòi hỏi, mới đầu chỉ có mười hai toán viễn thám LLĐB Việt-Mỹ và mười hai toán DSCĐ 'Chạy&lt;br /&gt;đường mòn', một đại đội phòng thủ ngườI Nùng và tiểu-đoàn 81 Biệt-cách-dù với năm đại đội làm đơn-vị xung kích tiếp ứng. Những nhiệm vụ được trao phó cho hành quân&lt;br /&gt;Delta gồm có: Xác-định vị trí đơn-vị địch, thâu thập tin tức tình báo chiến lược, thẩm định sự tàn-phá cho các trận thả bom, lùng và diệt địch, đột kích và phá hoại. Bộ chỉ huy B-52 rất nổi tiếng trong suốt trận chiến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến năm 1966, chương trình Delta làm việc trực tiếp với bộ chỉ huy Quân Viên (MACV), thi hành những sứ mạng trên khắp Việt Nam. Cũng trong năm này hai chương trình khác Sigma và Omega được phát triển với nhiệm vụ tương-tự, hoạt động trên lãnh thổ vùng I và vùng II chiến thuật. Bộ chỉ huy B-52 còn được MACV giao cho nhiệm vụ huấn luyện lính Hoa-Kỳ về kỹ thuật viễn thám. B-52 đồn trú tại Nha-Trang cho đến tháng sáu năm&lt;br /&gt;1970 khi chương trình Delta chấm dứt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;B-53 NHÓM CỐ VẤN HÀNH QUÂN ĐẶC BIỆT.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bộ chỉ huy B-53 được chính thức thành lập tại Việt-Nam vào tháng hai năm 1964. Lúc&lt;br /&gt;đó đặt tại căn cứ huấn luyện LLĐB Việt Nam ở Long Thành. Trong thời gian tại đó,&lt;br /&gt;nhiều sứ mạng của đơn-vị được đề cao và bảo trợ bởi đơn-vị Nghiên-cứu Quan-sát&lt;br /&gt;thuộc bộ chỉ huy Quân-Viện (MACV-SOG).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi Liên-đoàn 5 LLĐB/HK rời Việt-Nam năm 1971, vấn đề huấn luyện quân Việt-Nam về chiến-tranh ngoại-lệ vẫncần thiết. B-53 LLĐB trở thành hạt nhân cho chương trình này và vào tháng giêng năm 1971được gọi là nhóm Cố-vấn Sứ-mạng Đặc-biệt (SMAG). Nhóm mới thành lập này, lúc đầu di chuyển trường huấn-luyện viễn-thám (MACV RECONDO), sau đó&lt;br /&gt;lấy bộ chỉ huy Liên-đoàn 5LLĐB làm bộ chỉ huy vào tháng ba.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiêm vụ của nhóm cố-vấn này là huấn luyện, cố-vấn và phụ giúp cho đơn vị Dịch-vụ Sứ-mạng Đặc-biệt (Special Mission Service - SMS) của Việt-Nam, đơn vị này là tiền thân của LLĐB/VN trong chiến tranh ngoại lệ. Vào tháng chín năm 1971, đơn vị SMS được lệnh làm việc với Đơn-vị 1, Sở Liên-Lạc QLVNCH đóng tại Đà-Nẵng, hậu thân của bộ chỉ-huy Bắc (Sở Bắc) của nhóm Nghiên cứu, Quan-sát MACV (MACV-SOG). Cho đến tháng ba năm 1972, trong vòng mười một tháng, nhóm Cố-vấn Sứ mạng Đặc-biệt (SMAG) hoàn tất việc hu
