Thursday, July 2, 2009

Toán Xâm Nhập Bắc Việt Từ 1961-1967


Toán Ngày Thả Toán Phương Tiện Nhân-Viên Phụ-Chú

1. ARES 02/61 Biển 1 Vẫn liên-lạc trong tháng 04/69.
2. ATLAS 03/61 Thả-Dù 4 2 chết, 2 bị bắt
3. CASTER 05/61 Thả Dù 4 Mất liên lạc 07/63 bên Lào
4. DIDO 06/61 Thả Dù 4 Gửi báo cáo sai-lạc. Chấm dứt.
5. ECHO 06/61 Thả Dù 3 Gửi báo cáo sai lạc cho đến 08/62.
6. TARZAN Thả Dù 6 Liên lạc lần cuối 06/63, mất tích.
7. EUROPA 02/61 Thả Dù 5 Liên lạc lần cuối ngày 27/01/64 từ Bắc Việt.
8. REMUS 16/04/62 Thả Dù 6 Thêm 2 người 12/08/63, 3 người 23/04/64,
4 người Toán ALTER 22/10/64, 4 người 06/65, 2 người 21/08/67. Ngày 13/05/68 Bắc Việt loan tin bắt được quân Biệt-kích trong vùng hoạt động của toán Remus
9. TOURBILLON 16/05/62 Thả Dù 8 Thêm 7 người toán COOTS 27/05/64, 7 người toán PERSEUS 24/06/64, 6 người toán VERSE 07/11/65, 2 người toán TOURBILLON BRAVO 24/12/66. Hiệu thính viên gửi tín hiệu khẩn 01/67. Toán được xử dụng để đánh lạc hướng địch cho đến 04/69.
10. EROS 06/62 Thả Dù 5 Gửi báo cáo sai-lạc. Chấm dứt.
11. PEGASUS 13/04/63 Thả Dù 6 .
12. JASON 14/05/63 Thả Dù 5 .
13. DAUPHINE 04/06/63 Thả Dù 5 .
14. BELL 04/06/63 Thả Dù 7 Thêm 7 người toán GRECO 14/11/64. Lần cuối cùng gửi điện văn 19/03/67. Mt 03/07/67.
15. BECASSINE 06/63 Thả Dù 6 .
16. BART 07/06/63 Thả Dù 5.
17. TELLUS 07/06/63 Thả Dù 4 .
18. MIDAS 10/06/63 Thả Dù 8 .
19. NIKE 10/06/63 Thả Dù 6.
20. GIANT 07/63 Thả Dù 6.
21. PACKER 07/63 Thả Dù 6.
22. EASY 09/08/63 Thả Dù 8 Thêm 6 người toán PISCES 18/07/64, Thêm 5 người toán HORSE 05/65, Thêm 9 người 17/09/65. thêm 3 người 8/10/65 Toán (DOG/GECKO). Toán DOG/GECKO đổi tên là EASY ALPHA nhẩy xuống 07/67. Lần cuối cùng liên lạc 26/04/68 báo chí ngoài Bắc loan báo bắt được 12 Biệt Kích quân, trong đó có toán trưởng.
23. Không tên 12/08/63 Thả Dù 2 Tăng cường cho toán REMUS.
24. SWAN 04/09/63 Thả Dù 6.
25. BULL 07/10/63 Thả Dù 7.
26. RUBY 05/12/63 Thả Dù 8.
27. Không tên 23/04/64 Thả Dù 3 Tăng cường cho toán REMUS.
28. ATTILA 25/04/64 Thả Dù 6.
29. LOTUS 19/05/64 Thả Dù 6 Bị bắt, bị đưa ra toà lãnh án.
30. COOTS 27/05/64 Thả Dù 7 Tăng cường cho toán TOURBILLON.
31. SCORPION 17/06/64 Thả Dù 7 Bị bắt, đưa ra tòa.
32. BUFFALO 19/06/64 Thả Dù 10 Bị bắt, đưa ra toà.
33. EAGLE 28/06/64 Thả Dù 6 Bản phân tích 06/68: Bị địch bắt, còn 3 người dự trù di chuyển về hướng Nam. Bắt đầu di chuyển 11/68. Còn liên lạc trong năm 69.
34. PISCES 18/07/64 Thả Dù 6 Tăng cường cho toán EASY.
35. PERSEUS 24/07/64 Thả Dù 7 Tăng cường cho toán TOURBILLON.
36. BOON 29/07/64 Thả Dù 9 Bị bắt đưa ra tòa lãnh án.
37. ALTER 22/10/64 Thả Dù 4 Tăng cường cho toán REMUS.
38. GRECO 14/11/64 Thả Dù 7 Tăng cường cho toán BELL. CENTAUR 28 Toán bị rớt máy bay C-123 ngày 10/12/64 nơi Ngũ Hoành SơnÐà Nẵng. Tử nạn REMUS ALPHA 05/65 5 Một phần của REMUS được lệnh triệt xuất qua Lào. Lần liên lạc cuối cùng 21/08/65. Tọa độ Vic 785367. “im lặng vô tuyến, đi Vạn Tượng (Lào)
39. HORSE 05/65 Thả Dù 5 Tăng cường cho toán EASY.
40. DOG/GECKO 17/09/65 Thả Dù 9 Tăng cường cho toán EASY. Sau bổ túc EASY ALPHA thành toán EASY ALPHA 30/10/65. Nhập lại toán EASY trong tháng 07/67.
41. VERSE 07/11/65 Thả Dù 8 Tăng cường cho toán TOURBILLON. Hai người chết lúc thả dù. Toán hướng dẫn TOURBILLON về kỹ thuật thám sát đường mòn. 21/12/65, TOURBILLON chia 3 người qua toán VERSE. Toán VERSE tách ra. Ngày 27/07/67, radio Hà-Nội loan tin bắt sống toán.
42. ROMEO 19/11/65 Trực Thăng 10 Tháng 10/66 nhận được điện văn rất rõ 'ROMEO đã bị bắt'. Lần cuối cùng liên lạc 05/08/68. Báo cáo mất tích 04/11/68.
43. KERN 05/03/66 Thả Dù 9 Một người chết lúc thả dù. Lần cuối cùng liên lạc 05/09/66. mất liên lạc 07/12/66.
44. HECTOR 22/06/66 Trực Thăng 15 Thêm 11 người toán HECTOR BRAVO 23/09/66. Hai toán không gặp được nhau. Bỏ rơi BRAVO 28/12/66. HECTOR liên lạc lần cuối 15/03/67. mất liên lạc 26/06/67.
45. SAMSON 05/10/66 Trực Thăng 8 Bãi đáp bên Lào. Liên lạc lần cuối 02/12/66. Bỏ rơi 01/03/67.
46. TOURBILLON 24/12/66 Thả Dù 2 Tăng cường cho TOURBILLON. Ðem BRAVO theo máy nghe lén điện thoại và máy dò thính.
47. HADLEY 26/01/67 Trực Thăng 11 Xâm nhập vào miền Bắc bằng đướng bộ. Bản phân tích 06/68: Toán bị bắt ít lâu sau khi xâm nhập. Dùng để đánh lạc hướng địch quân từ 06/67. Ðược lệnh triệt xuất qua Lào. 03/69, toán báo cáo đã ở bên Lào cho trực thăng bốc về. Tìm không ra vị trí của toán.
48. HANSEN 22/04/67 Trực Thăng 17 Toán chưa hề ra đến Bắc Việt Nam. Ðịch xuất hiện nơi bãi đáp. Yêu cầu triệt xuất.
49. Không tên 21/08/67 Thả Dù 2 Tăng cường cho toán REMUS.
50. GOLDFISH 13/09/67 Ðường Biển 1 Xâm nhập bằng Plowman. Ðiệp vụ 327. Ðiệp viên tuyển mộ trong nhóm tù binh ở Paradise. Ðiệp viên sẽ nằm vùng 60- 90 ngày và triệt xuất bằng đường biển. Mất liên lạc.
51. RED DRAGON 21/09/67 Thả Dù 7 Bị phân tán lúc thả dù. Người Hoa-Kỳ tin là họ bị bắt. Sĩquan Việt-Nam cho rằng toán an toàn trong bản báo cáo 06/68. Vẫn liên lạc cho đến tháng 04/69.
52. VOI 18/10/67 Thả Dù 4 Mất liên lạc sau khi xâm nhập.

Wednesday, July 1, 2009

Trận Chiên Bí Mật / Lời Giới Thiệu


Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM
Trong chiến tranh Việt-Nam, một đơn-vị tối mật được ít người biết đến với danh hiệu Nha-Kỹ-Thuật thuộc bộ Tổng-Tham-Mưu, Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Những quân-nhân trong đơn-vị bí mật này thường được gọi là Lôi-Hổ hoặc xếp họ vào hàng lính Biệt-Kích thuộc binh-chủng Lực-Lượng Ðặc-Biệt. Người Hoa-Kỳ cho rằng Nha-Kỹ-Thuật là một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Ðông-Dương. Cả hai đơn-vị NKT và LLÐB đều được Hoa-Kỳ yểm trợ mạnh mẽ, NKT có tổ chức riêng biệt dựa theo cơ-cấu tổ chức của LLÐB. Các 'Sở' hoặc Bộ-Chỉ-Huy (CCN, CCC, CCS - Command & Control North, Central, South) tương đương với các Bộ-Chỉ-Huy 'C' (C1, C2, C3, C4) của LLÐB. Các 'Căn-cứ Hành-Quân Tiền-phương' (FOB – Forward Operation Base) tương-đương với các BCH 'B' (B50, B52, B57, v.v...). Các toán 'Lôi-Hổ' tương-đương với các toán 'A' biên-phòng. Bài viết này theo tài liệu trong cuốn 'SOG – The Secret Wars of America's Commandos in Vietnam', tác giả John L. Plaster. Tháng Hai 1961, môt chiếc thuyền đóng theo kiểu những thuyền đánh cá khác ở Bắc Việt-Nam trôi bềnh bồng ngoài khơi vịnh Bắc Việt, lặng lẽ hướng về Cẩm-Phả, một thành phố nhỏ ven biển. Hai đêm trước, họ đã lướt qua hải cảng Hải-Phòng một cách êm-thấm. Ðêm nay lúc hoàng hôn, họ có thể thấy mờ-mờ những rặng núi trong tỉnh Quảng-Ðông của Trung-Hoa vào khoảng 40 dặm về phiá bắc. Trường hợp không may xẩy ra, nếu họ bị bao vây, sẽ không có một chiếc tầu nào của phe ta đến tiếp cứu họ. Chiếc thuyền con không được đóng ở ngoài Bắc mà ở Vũng- Tàu cách xa 800 dặm, những người lái tầu đã được cơ-quan tình báo CIA Hoa-Kỳ bí-mật tuyển mộ và huấn luyện để đưa một người Việt-Nam tuổi khoảng trung tuần đem theo máy truyền tin xâm nhập vào miền Bắc. Ðiệp viên bí danh Ares đã đặt chân lên miền Bắc thành công mỹ-mãn. Dưới thời tổng-thống Kenedy, điều-khoản số 52 trong Hội Ðồng An-Ninh Quốc-Gia chấp thuận cho cơ-quan CIA xư ûdụng quân Biệt-Kích Mũ- Xanh (Special Forces) và đơnvị Người Nhái Hải Quân (Navy SEALs) để huấn-luyện, cố-vấn quân-nhân Việt-Nam

Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM Trang 5
trong những nhiệm-vụ bí-mật do ông trùm Xịa CIA Colby tổ chức. Tại thành phố bờ biển Nha-Trang, Lực-Lượng Ðặc-Biệt Hoa-Kỳ huấn luyện cho Biệt- Kích quân Việt-Nam thuộc Liên-Ðoàn 1 Quan-Sát để dòthám đường mòn Hồ-Chí- Minh. Trong năm 1961-1962, Liên-Ðoàn 1 Quan-Sát tổ chức 41 cuộc hành-quân viễnthám, tìm kiếm dấu vết đường xâm-nhập cuả địch qua ngã Lào. Trong khi đó, ngoài Ðà- Nẵng, toán người-nhái Hoa- Kỳ huấn luyện thủy-thủ Việt- Nam, chuyên chở người xâm nhập miền Bắc bằng đường biển. Ngoài ra tổ chức thêm những toán Biệt-Hải với nhiệm-vụ mở những cuộc tấn công bất ngờ các mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc. Sau vài chuyến thành công, Hải- Quân Bắc Việt đã đề phòng, ngăn chận đánh chìm một số hải thuyền. Sau khi nhận định lại tình hình, cơ-quan CIA đổi hướng xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng-không qua sự tiếp tay của Không-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Các nhân-viên (Trong giai đoạn này họ là dân-sự) xắp
xâm nhập miền Bắc được huấn luyện trong căn cứ ở Long-Thành, cách Saigon khoảng 20 dặm về hướng đông. Quân Mũ-Xanh và nhân viên CIA huấn luyện họ về ngành tình-báo, kỹ-thuật pháhoại, xử-dụng vũ-khí, nhẩy dù, đánh morse và mưu-sinh. Những khả năng để họ có thể hoạt động trong nhiều năm ngoài Bắc.

Ðến cuối muà Xuân 1961, điệp-viên Ares vẫn thường gửi những điện văn morse đến trung tâm truyền tin viễn thông của CIA ở Phi-Luật-Tân để báo cáo. Không như điệp viên Ares, ra đi đơn độc. Bây giờ đến giai đoạn thả những toán biệt kích xâm-nhập từ 3 đến 8 người. Họ không được may mắn như điệp-viên Ares.

Chuyến đầu tiên thả toán Atlas, toán này không có cơ hội để gửi điện văn báo cáo là đã đến nơi, chiếc máy bay chở họ cũng biến mất luôn! Tướng Kỳ đích thân lái phi vụ thứ hai thả toán Castor sâu vào miền Bắc Việt-Nam. Ba tháng sau, Hà-Nội làm rùm beng vụ đem xét-xử ba người sống sót trong toán Atlas. Ít lâu sau toán Castor cũng mất liên-lạc, rồi đến hai toán Dido và Echo cũng nằm trong tay địch quân. Toán cuối cùng thả xuống miền Bắc trong năm 1961 là toán biệt kích Tarzan cũng mất tích. Trong mùa hè 1962, cơ-quan CIA đồng-ý bàn giao các hoạt động trong vùng Ðông-Nam- Á cho quân-đội trong vòng 18 tháng. Chương trình bàn giao có tên là Kế-Hoạch Trở-Lại (Operation Switchback). Rồi thì chính-biến 1-11-1963 xẩy ra và nhiều biến đổi trong miền Nam Việt-Nam làm cho kế-hoạch chậm trễ. Quân-đội Hoa-Kỳ vẫn chưa có một đơn vị đặc biệt nào để đảm nhận chương trình của CIA bàn giao.
Hà-Nội gia tăng mức độ xâm nhập vào miền Nam làm cho bộ-trưởng Quốc-Phòng Mc Namara ra lệnh thả nhiều toán 'Biệt-Kích' ra ngoài Bắc phá hoại 'Giới lãnh-đạo miền Bắc nên biết rằng họ sẽ phải trả giá nếu còn tiếp tục nuôi dưỡng, cho quân xâm nhập vào miền Nam'. Kế-hoạch 34A (OPLAN-34A) ban-hành ngàỵ 15 tháng 12 năm 1963 giới hạn cho một số mục tiêu. Mặc dầu Mc Namara thúc đẩy, kế-hoạch 34A bắt đầu từ ngày 1 tháng Hai 1964, Bộ- Chỉ-Huy Quân-Viện (MACV) mới lập xong một đơn vị cho các hoạt động bí mật của CIA.

Ðơn vị này do một đại-tá chỉ huy và bao gồm nhiều đơn vị, từ LLÐB, Người Nhái, Không-Ðoàn Cảm-Tử (Air Commando). Ðơn vị mới này lấy tên là SOG (Special Operation Group) Liên-Ðoàn Hành-Quân Ðặc-Biệt. Sau đó đổi tên để bảo mật mặc dầu vẫn viết tắt là SOG (Study and Observation Group) Ðoàn Nghiên-Cứu, Quan-Sát, tên mới nghe có vẻ chỉ gồm những chuyên-gia hoặc những nhà giáo.
Ðơn-vị mới SOG không trực thuộc cơ-quan MACV hoặc cấp chỉ huy của MACV là tướng William Westmoreland, mà nhận lệnh thẳng từ bộ TTM/QLHK (JCS) trong Ngũ- Giác-Ðài và thường nhận lệnh từ tòa Bạch Ốc. Chỉ có 5 sĩ quan cao cấp Hoa-Kỳ ở Saigon được báo cáo về những hoạt động bí-mật của SOG: Tướng Westmoreland, tham-mưu-trưởng của ông ta, trưởng phòng Nhì, tư-lệnh Ðệ- Thất Không-Lực, và viên tưlệnh lực-lượng Hải-Quân HK tại Việt-Nam. SOG được chấp thuận mở những cuộc hành quân phát xuất từ miền Nam Việt-Nam, và Thái-Lan vào đất Ai-Lao, Miên, Bắc Việt và có thể ở phiá bắc Miến-Ðiện, Quảng Ðông, Quảng Tây, Hồ-Nam và đảo Hải-Nam bên Tầu. Ngân khoản dành cho SOG sẽ
dấu trong ngân khoản dành cho Hải-Quân Hoa-Kỳ. Trùm SOG là một sĩ-quan thuộc binh-chủng Nhẩy-Dù trong trận Thế-Chiến thứ Hai, sau đó chuyển qua Lực-Lượng Ðặc-Biệt trong thập niên 50. Ðại-Tá Clyde Russell đã từng theo sư-đoàn 82 Dù nhẩy xuống Pháp, Hòa-Lan, sau đó chỉ-huy Liên-Ðoàn 10 LLÐB bên Âu-châu, sau đó là LiênÐoàn 7 LLÐB trong căn-cứ Fort Bragg, North Carolina. Trong kế-hoạch 34A, đại-tá Russell và ban tham-mưu thay đổi cơ-cấu tổ chức của LiênÐoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát dựa theo tổ chức OSS xâm nhập với sở Không yểm, Hải yểm và một đơn-vị Tâm-lý chiến. Cơ-quan CIA cho SOG xử-dụng hệ-thống tiếp-liệu đặc biệt với những đồ chơi 'Xa-xỉ phẩm' như vũ-khí tối tân, dụng cụ câu dây điện thoại để nghe lén. Ðồ tiếp liệu bí mật này có trong căn cứ Chinen ở Okinawa. Ngoài ra còn có thêm văn phòng chuyên lo việc tiếp liệu cho đơn vị SOG và LLÐB. CIA bàn giao thêm cho SOG một phi đội C-123 từ Ðài- Loan do các phi-công Ðài- Loan lái để thay thế các máy bay C-47 của Không-Lực VNCH. Phi-đội này có tên là Ðệ Nhất gồm bốn chiếc C- 123. Mỗi chiếc có một phi hành đoàn phụ Hoa-Kỳ để bay những phi vụ trong miền Nam, các phi-công Ðài-Loan bay những phi vụ ra Bắc hoặc qua đất Miên. Những phi công Ðài-Loan này không biết tiếng Việt, có thẻ căn-cước Việt-Nam nhưng chỉ một số rất ít viên chức Việt-Nam mới biết họ là ai. CIA cũng bàn giao thành quả 3 năm hoạt-động của họ cho tới năm 1964. Tất cả 22 toán thả ra ngoài Bắc, chỉ còn liên-lạc được 4 toán Bell, Remus, Easy, Tourbillon và Ares. Trong căn-cứ Long- Thành gần Saigon, SOG nhận được khoàng hơn 20 nhân viên đang thụ-huấn. Các sĩ quan SOG không tin tuởng nơi họ và phải loại trừ những quân nhân đó. SOG cũng không thể trả họ về cho QL/VNCH vì họ đã biết những nhiệm-vụ, hoạt động bí mật của cơ-quan ở ngoài Bắc. Cách giải quyết dễ dàng nhất là... cứ thả họ ra ngoài Bắc (Bỏ rơi cho địch quân). Trong tháng Năm, Sáu, Bảy 1964, các toán Boone, Buffalo, Lotus và Scorpion nhẩy dù xuống miền Bắc và đều bị bắt hết. Ngoài ra một số nhân viên khác cũng được gửi ra ngoài Bắc để tăng cường cho hai toán Remus và Tourbillon. Sau khi thanh toán xong các toán do CIA để lại, SOG bắt đầu tuyển mộ nhân viên mới cho một chương trình huấn luyện dài 21 tuần lễ. Danh từ 'LÔI-HỔ' có từ đây. Ðể yểm trợ cho kế-hoạch 34A tấn công bất ngờ bờ biển Bắc Việt, trong đêm 16 tháng 2 năm 1964, ba thủy thủ người Na-Uy lái chiếc tầu Nasty (chạy rất nhanh, hỏa lực mạnh do Na-Uy chế tạo) chở theo người nhái Việt-Nam dự tính phá hủy một chiếc cầu, bị địch phát giác phải quay trở lại. Mấy đêm sau, một toán phá hoại người nhái khác xâm nhập miền Bắc bị thất bại, mất đi 8 quân nhân thuộc Lực- Lượng Người Nhái HQVN. Qua tháng 7, các tốc đỉnh Nasty và Biệt-Hải dùng chiến thật tấn công bất ngờ rồi chạy, phá hủy được năm mục tiêu ngoài Bắc trong hai ngày 9 và 25 tháng Bảy.

Ngày 30 tháng 7, SOG xử dụng 5 chiếc tốc đỉnh Nasty tấn công những dàn ra-đa gần Hải-Phòng gây nhiều tiếng nổ phụ. Trong tháng Tư 1964, bộ trưởng quốc-phòng Mc. Namara ra lệnh thám-thính phần đất bên Ai-Lao. Chương trình 'Leaping Lena' bắt đầu thả toán đầu tiên qua Lào ngày 24 tháng Sáu, đến 1 tháng Bảy, năm toán Biệt- Kích Việt-Nam nhẩy dù qua biên giới Lào để dò-thám các hoạt động của quân-đội Bắc Việt Chương trình 'Leaping Lena' tới tai cố-vấn của tổngthống Hoa-Kỳ, ông William Bundy qua bản báo cáo 'Tất cả các toán đều bị địch tìm ra vị-trí, chỉ còn bốn người sống sót chạy thoát trở về'. Ðầu năm 1965, phi công Jim Ryan của Air America (CIA), chụp được một số hình ảnh, những con đường mới làm từ đèo Mụ-Già qua phần đất Ai- Lao, hệ thống đường mòn Hồ- Chí-Minh gia tăng. Ngày 8 tháng Ba năm 1965, SOG có một cấp chỉ huy mới là Ðại-Tá Donald Blakburn, một huyền thoại trong ngành Lực-Lượng Ðặc-Biệt.

Theo tài liệu:
SOG The Secret Wars Of America's Commandos in Vietnam, John L. Plaster.
Dallas 20-11-1999
VÐH

Tuesday, June 30, 2009

Chiến Tranh Ngoại Lệ / Trận Chiến Bí mật


Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM Trang 9
Năm 1957, chính quyền Eisenhower tài trợ cho một chương trình bí-mật. Phối hợp giữa cơ quan Trung-Ương Tình-báo CIA và bộ Quốc- Phòng Hoa-Kỳ giúp đỡ việc thành-lập một đơn-vị Lực- Lượng Ðặc-Biệt cho Nam Việt- Nam. Ðơn-vị này tên là LiênÐoàn Quan-Sát số 1, âm-thầm xâm-nhập vào hàng ngũ quân du-kích cộng-sản. Ðể bảo mật, Liên-Ðoàn Quan- Sát số 1 do một ban tình báo trong bộ quốc phòng, ban Nghiên-Cứu điều hành. Ban này có hai thay đổi, thứ nhất đổi tên là Phòng Liên-Lạc Phủ Tổng- Thống, dưới sự theo dõi trực tiếp của tổng-thống Diệm. Thứ hai, trung-tá Lê-Quang-Tung được chỉ định làm trưởng phòng Liên- Lạc. Năm 1958, cơ-quan CIA tại Saigon, thành lập ban ngoại-vụ để làm việc với phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống.

Trưởng ban là Russell Miller dưới danh hiệu ngoại-giao, ông ta để ý trung-tá Tung chọn mười hai nhân viên cho đơn vị mới. Mười một sĩ quan trẻ thiếu-úy hoặc trung-úy, dưới quyền đại-úy Ngô-Thế- Linh, người đã làm việc 5 năm ngoài Ðà-Nẵng. Trong tháng Mười Một, mười hai người được đưa qua Saipan. Họ được cơ-quan CIA huấn luyện hai tháng về nhiều môn, tình-báo tác-chiến, phương-thức phá-hoại và điều-khiển đường giây tình-báo. Trở về Saigon vào cuối năm, đại-úy Linh được chính thức bổ nhiệm làm trưởng phòng Bắc Việt (bí-danh phòng 45) trong phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống. Chỉ có hơn chục người, trong những tháng kế tiếp, phòng 45 lo việc huấn luyện thêm nhân viên. Ðến giữa năm 1959 một nhóm năm sĩ-quan khác được đưa qua Saipan thụ huấn khóa huấn luyện nắn sáu tuần lễ. Sau đó ít lâu, cơ-quan CIA cử nhân viên qua Saigon huấn luyện hai lần, mỗi lần khoá huấn luyện kéo dài mười hai tuần lễ. Lần này chương trình huấn luyện nhằm vào những sĩ quan trẻ sinh quán nơi miền Bắc và gốc người thiểu-số. Trong khi việc huấn luyện kéo dài đến cuối năm 1959. Phòng 45 phác-họa kế hoạch đầu tiên, họ tìm cách xâm nhập vào một hậu phương mà địch kiểm soát rất chặt chẽ gần năm năm. Cơ quan CIA biết rõ trở ngại của phòng 45.

Trước đó năm 1951- 1953, họ cho xâm nhập 212 điệp viên Tầu vào Hoa-Lục, một nửa bị giết, nửa khác bị bắt. Trên đất Hàn quốc, kết quả cũng tương tự. Phòng Liên-Lạc phủ Tổng Thống trao trách nhiệm cho trung-úy Ðỗ-Văn-Tiên bí danh Francois gửi một điệp-viên đơnđộc (singleton) ra ngoài Bắc. Francois tìm được một người có khả năng là Phạm-Chuyên, đã từng là đảng viên trong tỉnh Quảng-Ninh bị vợ bỏ, ông ta di cư vào miền nam. Mới đầu Phạm-Chuyên từ chối làm việc, mặc dầu trung-tá Lê-Quang- Tung đã cho đàn em theo dõi, dụ dỗ sáu tháng. Trung-úy Tiên (Francois) cộng tác với một nhân viên CIA là Edward Reagan tìm cách thuyết phục Chuyên, sau hơn sáu tháng Phạm Chuyên nhận lời. Người điệp viên mới được đưa ra Nha-Trang để qua kỳ trace nghiệm tâm-lý. Chuyên đạt được điểm xuất sắc, sau đó qua hai kỳ khảo nghiệm (test) nữa, một ở Saigon và ở Nha-Trang. Tiếp theo là phần huấn luyện cho Chuyên sáu tháng về ngành truyền-tin. Trong khi Chuyên được huấn luyện, trung-úy Tiên và Reagan bận rộn phác-hoạ kế hoạch gửi người điệp viên trở ra ngoài bắc. Chuyên sẽ nằm vùng dài hạn trong tỉnh Quảng-Ninh, một tỉnh ngay bờ biển, nơi Chuyên rất rành-rẽ, cho Chuyên xâm nhập bằng đường biển là điều hợp lý. Hai chuyên viên ình báo bay ra Ðà-Nẵng tìm địa điểm phát xuất, họ thuê một biệt thự có tường cao bao quanh làm căn cứ. Tất cả những hoạt động của họ từ đó trở về sau có mật hiệu là Pacific (Thái-Bình- Dương).

Trước khi Chuyên được gửi đi, Phòng 45 quyết định kế hoạch ngắn hạn, thả điệp viên qua vùng phi quân-sự, dọc theo vĩ tuyến 17. Người được tuyển chọn cho kế hoạch này là một người theo đạo công giáo, quê ở Hà-Tĩnh tên là Vũ-Công-Hồng. Hồng được huấn luyện nhanh chóng và đưa ra Huế sống trong một căn nhà an-toàn. Trong nhà có thêm hai sĩ-quan trẻ thuộc phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống là Phạm-Văn-Minh và Trần-Bá- Tuân, cả hai đều đã được huấn luyện ở Saipan. Hai người có bí danh là Michael và Brad. Họ làm việc với nhân viên CIA David Zogbaum. Cũng như Francois (tr/u Tiên), Reagan trong Ðà-Nẵng, các hoạt động phát xuất từ Huế có mật hiệu là Atlantic (Ðại-Tây-Dương). Vũ-Công-Hồng mang bí danh là Hirondelle đã sẵn sàng ra đi. Thiếu-tá Trần-Khắc-Kính nhân vật thứ hai trong phòng Liên- Lạc PTT, có mặt trong lúc thả điệp viên Hirondelle qua sông Bến-Hải. Qua sông, Hirondelle biến mất vào màn đêm và trở lại miền nam vài tuần sau.

Mặc dầu chỉ cho biết tin tức về đường đi nước bước, hệ thống an-ninh nơi miền Bắc, người điệp viên làm cho phòng 45 phấn khởi. Hai tháng sau chuyến đi của Hirondelle, Chuyên đã sẵn-sàng sau một năm huấn luyện. Sứ mạng của Chuyên khác với Hirondelle. Chuyên sẽ thu-thập tin tức tình báo, tuyển mộ thêm điệp viên và sẽ nằm vùng trong nhiều năm. Theo kế-hoạch (vỏ bọc / ngụy trang) Chuyên sẽ trở nên một người đánh cá ở Cẩm-Phả, một làng nhỏ gần vịnh Hạ- Long. Ðó cũng là quê của Chuyên trước năm 1958, sự trở về của Chuyên có thể bị lộ, tuy nhiên ông ta còn có gia đình, anh em, vẫn hy vọng được che chở. Phạm-Chuyên đã sẵng sàng ra đi với bí danh Ares. Ðầu tháng Tư năm 1961, Ares lên tầu Nautilus I rời Ðà-Nẵng theo chuyến hải hành hai ngày về phiá bắc. Gặp thời tiết xấu, chiếc Nautilus I phải quay trở về bến. Vài hôm sau, thời tiết trở nên tốt, điệp viên Ares lại lên đường.

Cả hai Francois và Reagan ra bến tầu tiễn Ares, Francois nhớ lại 'Tôi chúc anh ta đi may mắn'. Ðiệp viên Ares không nói một lời nào. Bầu trời xanh, biển lặng, chiếc Nautilus I lặng lẽ xâm nhập vào vùng biển Quảng-Ninh, sau đó Ares chèo xuồng nhỏ đổ bộ lên bờ. Ðịa điểm đổ bộ gần Cẩm- Phả, Ares đem đồ tiếp vận lên bờ rồi dấu hai máy truyền tin. Nhiệm vụ đầu tiên, anh ta phải tuyển mộ thêm một người để giúp đỡ trong việc xử dụng máy truyền tin. Phòng 45 đã rõ điều này nên sẽ chờ tín hiệu của Ares trong vòng nhiều tuần hoặc nếu không vài tháng. Không bị phát giác, có người trông thấy, người điệp viên lẻn về làng cũ, và vào thẳng căn nhà xưa của mình. Xum họp với gia đình, Ares thuyết phục người em Phạm-Ðộ. Miễn cưỡng, anh ta đi theo Ares ra bờ biển thâu hồi hai máy truyền tin. Họ đào hố chôn hai cái máy ở trong nhà.

Chuyến xâm nhập của Ares coi như thành công. Ngày 9 tháng Tư, mấy ngư dân khám phá ra chiếc xuồng nhỏ của Ares. Tiếp theo sau là những cuộc khám xét làng đánh cá do lực lượng an-ninh. Sau khi xác định không ai làm chủ chiếc xuồng nhỏ, cuộc khám xét lan tràn ra bãi biển, và công-an tìm ra hố chôn dấu hai máy truyền tin. Nghi ngờ điệp viên địch (miền nam) xâm nhập, viên chỉ huy lực lượng công an tỉnh Quảng Ninh thảo kế hoạch khám xét từng nhà, đặc biệt những nhà có người di cư vào nam, và những gia đình có liên hệ với chế độ thực dân trước đây. Không biết chuyện đó, Ares vẫn trốn trong một cánh rừng gần đó. Anh ta đem theo một máy truyền tin, nhờ người em quay máy (crank), điệp viên Ares gửi đi bức điện văn đầu tiên. Ðể tránh làn sóng bị giao thoa, Ares đánh tín hiệu từ bờ biển miền bắc Việt-Nam, vượt đại dương đến trạm Bugs, mật hiệu do cơ-quan CIA đặt cho trạm viễn thông ở Phi-Luật-Tân. Từ đó bản điện văn sẽ được tiếp vận, truyền đi đến cơ quan CIA tại Saigon.

Robert Kennedy, nhân viên CIA bước vào phòng 45 với bức điện văn trên tay vẫy-vẫy mừng rỡ nói lớn 'Thành công!'. Một phó bản bức điện văn của Ares được trình lên tổng-thống Diệm. Sau đó Ares gửi thêm hai mươi hai bản báo cáo nữa trong một thời gian gấp rút. Trong khi đó tại Quảng-Ninh, nhân viên phản-gián Bắc Việt dò làn sóng viễn thông để lấy những bản điện văn. Một cụ già cũng báo cáo cho công an rằng có người lạ tìm cách dấu mặt đang sống trong một căn chòi gần bãi biển. Cụ già nói thêm, có người trong nhà khoe một cây viết nguyên tử, vật ít thấy nơi miền bắc. Với những điều thâu thập, công-an theo dõi nhà của gia đình Phạm Chuyên. Ngày 11 tháng Sáu, giới thẩm quyền bắt giữ Phạm-Ðộ trong khi anh ta đem đồ tiếp tế vào rừng cho anh mình. Sáu ngày sau, họ khám phá ra máy truyền tin thứ hai chôn dấu trong nhà cùng với bản mật mã. (số phận người điệp viên Ares Phạm Chuyên ra sao???). Hà Nội có hai lựa chọn. Công bố vụ bắt được điệp viên Ares rồi đưa ra toà như nhóm Ðại- Việt trước đây, hoặc dùng Ares làm gián điệp đôi ép buộc Ares phải liên lạc thường xuyên với Saigon.

Ðúng 9 giờ sáng ngày 8 tháng Tám, Saigon nhận được điện văn của Ares sau gần hai tháng mất liên lạc. Với sĩ-quan an-ninh Bắc Việt bên cạnh, người điệp viên cắt nghĩa về sự vắng mặt của mình. Mẹ và em gái anh ta không đủ tiền nạp thuế nông nghiệp, do đó anh ta phải lánh mặt lên Hà-Nội tạm thời. Saigon tạm tin vào những điều báo cáo của Ares và đồng ý gửi tiếp tế cho Ares theo lời yêu-cầu của anh ta. Chiếc Nautilus I lại rời Ðà-Nẵng ngày 12 tháng Giêng năm 1962 đem đồ tiếp tế cho Ares. Chiếc này đến vịnh Hạ-Long không gặp trở ngại, sau đó tự nhiên mất liên lạc vô tuyến một cách bí mật. Phòng 45 lo ngại cho số phận chiếc Nautilus I cùng với thủy thủ đoàn, mặc dầu có sự nghi ngờ điệp viên Ares...

Có lẽ chiếc tầu gặp tầu tuần duyên của Bắc Việt khi đến gần bãi biển. Phòng 45 cho đóng chiếc tầu khác lấy tên là Nautilus 2. Chiếc này sẵng sàng vào tháng Tư cùng với thủy thủ đoàn tuyển mộ từ những người Bắc di cư và huấn luyện tại Ðà-Nẵng. Ngày 11 tháng Tư, chiếc Nautilus 2 rời Ðà-Nẵng ra Bắc hướng về vịnh Hạ-Long. Hai ngày sau ra đến ngoài khơi Quảng-Ninh. Sáu người trong nhóm mười bốn thủy thủ đoàn, xuống xuồng cao-su chở theo đồ tiếp vận cho Ares gồm bẩy hộp thiếc, và hai mươi ba hộp carton bọc trong bao plastic. Họ chèo xuồng đến một đảo nhỏ trong vịnh Hạ-Long, chất hàng lên đảo và lấy cây che đi.

Khi chiếc Nautilus 2 về đến Ðà-Nẵng an toàn, phòng 45 ăn mừng sự thành công của chuyến tiếp tế đầu tiên cho điệp viên Ares. Sau đó ngày 2 tháng Năm, họ gửi tín hiệu chỉ chỗ dấu hàng cho điệp viên Ares. Ít lâu sau,
Ares báo cáo đã thâu hồi đồ tiếp vận kể cả máy truyền tin cùng với máy chụp ảnh 35mm.

Theo tài liệu 'How America Lost the Secret War in North VietNam', tác giả Kenneth Conboy, Dale Andradé. United Press 2000.
Carrollton, ngày 10 tháng Ba năm 2001

Chiến Tranh Ngoại Lệ 2 / Điệp Vụ tại Bắc Việt


Mặc dầu thành công với điệp viên Ares (chuyên xẩy ra như thế nào vẫn chưa rõ), hồ sơ về những điệp viên đơn-độc (singleton) không được tốt đẹp lắm. Trong tháng Chín năm 1961, điệp viên thứ ba của phòng 45 bí danh Hero xâm nhập bằng đường biển, trở về liên lạc với gia đình bị thất bại. Chuyện này không thành công và phòng 45 phải thâu hồi ngay tức khắc. Cũng trong tháng đó, điệp viên Hirondelle (bài 1) xâm nhập trở lại vùng Hà- Tĩnh bằng đường biển. Lần ra đi này, anh ta biến mất. Trong năm 1962, danh sách các điệp viên đơn độc bị mất tích gia tăng.

Một điệp viên bí danh Triton, xâm nhập vào Hà-Tĩnh bằng tầu biển trong tháng Năm cũng biến mất không tìm ra manh mối. Cuối tháng đó, một điệp viên khác bí danh Athena xâm nhập cũng trong vùng biển Hà- Tĩnh. Người điệp viên đó chính là Ðặng-Chí-Bình (rất nổi tiếng trong giới người Việt hải ngoại qua bộ hồi ký ThépÐen), Athena bị bắt sau khi thi hành công tác ở Hà-Nội. Ðến năm 1963, chuyện gửi điệp viên nằm vùng dài hạn trong một xã hội kiểm soát quá chặt chẽ như ở miền Bắc rất khó khăn. Ngoại trừ Ares, bốn điệp viên khác xâm nhập bằng đường biển bị mất tích coi như đã chết.

Ngay cả chuyện bơi qua sông Bến Hải như Hirondelle đã làm trước đây cũng trở nên gay-go Nguy hiểm. Ðiệp viên bí danh Wolf xâm nhập qua vùng phi quân sự bị mất tích trong tháng Hai năm 1963. Mùa Hè 1963, phòng 45 chuẩn bị tái tiếp tế cho điệp viên Ares, họ hy vọng cũng sẽ thành công như năm trước. Ngày 11 tháng Tám, tầu rời Ðà-Nẵng. Hai hôm sau đến vịnh Hạ-Long, sáu người trên tầu xuống xuồng cao-su bơi xuồng vào bờ biển. Họ biến mất không quay trở lại, phần còn lại trên tầu hốt hoảng khi trông thấy tầu tuần tiễu Bắc Việt xuất hiện, họ dông một mạch tuốt về Ðà-Nẵng. Một lần nữa điệp viên Ares bị nghi ngờ. Cơ-quan CIA và phòng 45 đã bắt đầu phác hoạ kế hoạch xâm nhập miền Bắc bằng phương tiẹân thả dù từ năm 1961.

Thiếu-úy Lò-Ngân- Dung một sĩ-quan gốc người dân tộc Thổ vùng Lao-Cai Bắc Việt bí danh Jacques được phép tuyển mộ biệt kích lấy ra từ liên-đoàn Quan-Sát số 1. Ðơn vị này gồm đa số quân nhân quê quán nơi miền Bắc, những quân nhân sắc tộc Tày, Mường, Nùng tình nguyện từ những binh chủng thuộc QL/VNCH. Jacques lập toán đầu tiên gồm ba người Mường và một người Nùng. Bốn quân nhân thiểu số được đưa về sống nơi nhà an-toàn trong Saigon. Họ được huấn luyện xử dụng máy truyền tin. Họ đã có bằng nhẩy-dù và tác chiến trong rừng từ liên-đoàn Quan-Sát số 1. Không như điệp viên Ares, phải xâm nhập vào xã hội miền Bắc, bốn quân nhân Biệt-Kích được huấn luyện sống biệt lập trong rừng núi. Sau ba tháng họ thụ huấn xong chương trình huấn luyện. Khi toán biệt-kích đầu tiên đã sẵn sàng, cơ-quan CIA phải quyết định tìm phương tiện hàng-không để thả dù toán biệt-kích xuống miền Bắc. Phương thức này đòi hỏi sự bảo-đảm và chối cãi được.

Trước đây CIA đã xử dụng nhiều loại phi cơ thả dù xuống Hoa Lục. Hãng hàng không của CIA là Air America đã được biết đến về những hoạt động trên đất Ai-Lao nên không thể xử dụng được (địch đã biết). Chỉ còn lại những phi công nam Việt-Nam trong Không- Lực VNCH có đủ khả năng để bay. Phi-đoàn này cũng phải được ngụy trang để có thể chối cãi. Cơ-quan CIA dựng nên hãng hàng không liên oanh Delaware Corporation
và Việt-Nam lấy tên là Việt- Nam Không-Vận (VIAT). Họ chỉ có một chiếc báy bay vận tải C-47 không có phù-hiệu đơn vị. Về phi-công, CIA tìm đến thiếu-tá Nguyễn-Cao-kỳ chỉ huy trưởng căn cứ không quân Tân-Sơn-Nhất.

Ông Kỳ tuyển mộ phi-công tình nguyện từ hai phi đoàn vận tải. Phi-đoàn mới do chính ông ta chỉ huy mang mật hiệu là Haylift. Những phi công trong đơn vị mới này đòi hỏi phải bay những phi vụ thả dù đêm, bay với cao độ thấp đến điạ điểm thả dù. Sau thời gian huấn luyện, chỉ còn lại phi hành đoàn năm người do thiếu-tá Kỳ chỉ huy và phi hành đoàn thứ hai (dự bị) do Trung-úy Phan-Thanh-Vân chỉ huy. Toán biệt-kích có bí danh Castor dựa trong thần-thọai Hy-Lạp là vị thần đã giúp đỡ Hercules. Thêm một sự trùng hợp khác, Castor là tên cuộc hành quân trong năm 1953 quân Pháp nhẩy dù xuống Ðiện-Biên-Phủ. Toán Castor sẽ phải hoạt động trong một hoàn cảnh khó khăn.

Sau khi khám phá ra chiếc xuồng của điệp viên Ares trong tháng Hai, Hà-Nội đã để-ý. Ngày 1 tháng Ba, đảng cộng-sản Việt- Nam bí mật ban hành lệnh tăng cường cho lực lượng anninh chống điệp viên xâm nhập. Toán Castor dự trù sẽ lên đường ngày 27 tháng Năm, trăng tròn, thời tiết lý tưởng. Không như đơn vị Biệt-Hải, xâm nhập vào những đêm không trăng. Các phi công cần ánh sáng mặt trăng để bay, thường chỉ có bốn đêm trong một tháng. Các quân nhân biệt-kích cũng cần một độ sáng để điều khiển dù xuống bãi đáp.

Như đã chuẩn bị, bốn biệt kích quân trong toán Castor, lên chiếc C-47 không phù hiệu đậu trong phi trường Tân- Sơn-Nhất. Người ngồi ghế lái máy bay chính là thiếu tá Kỳ, tất cả phi hành đoàn đều không đeo phù hiệu, không mang theo tất cả mọi thứ giấy tờ. Trường hợp bị rớt trên miền Bắc, vỏ bọc ngoài của họ là thường dân đi buôn lậu. Mỗi người đem theo một trăm đô-la đề phòng trường hợp cần tẩu thoát.

Chiếc máy bay chở toán Castor ghé Ðà-Nẵng lấy thêm nhiên liệu. Ðúng 10 giờ đêm, ông Kỳ cất cánh bay ra vịnh Bắc Bộ (Tonkin) về hướng tỉnh Ninh-Bình. Sau đó bay theo hướng tây bắc qua Hòa Bình rồi đến Sơn-La. Băng qua sông Ðà, dưới là ngọn đồi 828. Ông Kỳ bật đèn xanh, toán thả dù đẩy thùng đồ tiếp vận ra phiá cửa sau, toán biệt kích Castor nhẩy theo. Chiếc C-47 vòng lại và hướng về miền nam.

Trên đồi 885, trung-sĩ Hà- Văn-Chấp trưởng toán Castor, tháo dù và tập họp toán viên. Họ xuống ngọn đồi cách một làng gần đó chừng một cây số. Chín cây số về hướng nam là sông Ðà, thêm mười cây số nữa là đường số 6. Ðường 6 là một con đường chính, băng qua các tỉnh lân cận xuống tây nam đến thị trấn Sầm-Nứa trên đất Lào. Chính quyền của tổng thống Kennedy tin rằng Sầm-Nứa là đất dụng võ của quân cộng-sản. Toán Castor sẽ cung cấp tin tức về sự chuyển quân của địch trên đường số 6, đó là nhiệm vụ chính của toán Castor.

Khi toán Castor nhẩy xuống đồi 885, dân làng gần đó nghe tiếng động cơ máy bay và báo cáo cho lực-lượng Công-An Vũ-Trang Nhân-Dân. Sáng ngày 28, họ đã đoán được địa điểm nhẩy dù của toán biệt kích đêm qua. Công-an đến bao vây xung quanh đồi 885 và ba hôm sau họ bắt được bốn biệt kích trong toán Castor.

Phòng 45 vẫn chưa hay chuyện xẩy ra cho toán Castor, tiếp tục chương trình thả thêm những toán biệt kích khác. Ngày 2 tháng Sáu, toán thứ hai Echo gồm ba người phát xuất từ Ðà-Nẵng trên chiếc VIAT C-47 bay ra Bắc. Chiếc máy bay vòng qua vĩ tuyến 17, vào đến không phận tỉnh Quảng-Bình. Toán Echo nhẩy dù xuống vùng rừng núi nơi phiá bắc làng Trúc chừng năm cây số. Không còn gì xui hơn, khi toán biệt kích ra khỏi phi cơ đúng vào lúc hai làng ở phiá dưới đang có những buổi hội thảo. Nghe tiếng máy bay, họ ùa ra xem, nhìn rõ chiếc C-47 trên bầu trời sáng trăng. Tiếng đồng hồ sau, địch đã tổ chức xong cuộc truy kích gồm cả chó săn, công an và một đại đội lính điạ phương. Chuyện rủi ro đến với toán Echo ngay từ lúc đầu. Một biệt kích bị trôi dạt đi chừng ba cây số vướng trên một rừng cây, anh ta cắt dây dù, rơi xuống gay chân. Hai người còn lại biết bị lộ, báo cáo về Saigon cho biết tình hình và định chạy về phiá biên giới Việt-Lào để thoát thân.

Trước khi họ bắt đầu thực hiện ý-định, địch đã bao vây khu rừng, cả ba biệt kích quân bị bắt vào ngày hôm sau. Mười hai ngày sau, toán thứ ba Dido gồm bốn người sắc tộc Thái Ðen rời Ðà-Nẵng, mục tiêu hoạt động của họ là vùng dân tộc Thái Ðen. Lai Châu nằm về hướng tây bắc. Họ nhẩy dù xuống gần đường số 6, khoảng giữa tỉnh-lỵ và con đường đến làng Tuần- Giao. Toán Dido sẽ dò thám xe cộ của địch đến Tuần-Giao mà một nhánh sẽ đi về thung lũng Ðiện-Biên-Phủ và qua Lào. Vùng thung lũng do sư đoàn 316 đóng quân. Thiếu-tá Kỳ từ vùng vịnh Bắc-Bộ lái vòng theo những tỉnh cực bắc, thả truyền đơn trên không phận tỉnh Cao- Bằng gần biên giới Hoa-Việt. Ðến địa điểm thả dù trong tỉnh Lai-Châu, bốn biệt kích quân toán Dido nhẩy ra và chiếc C-47 theo lộ trình thả toán Castor trước đây quay trở về miền nam an toàn.

Trên bãi đáp bốn biệt kích tháo dù đem dấu rồi tập họp. Thùng đồ tiếp liệu của họ trong đó có quần áo, long thực, đạn dược, máy truyền tin trôi lạc mất, tìm không ra. Sau ba tuần lễ, bị đói, toán Dido đụng phải công an biên phòng trên đường di chuyển qua Lào, họ bị bắt gần biên giới. Ðến tuần lễ thứ hai trong tháng Bảy, Hà-Nội đã name trong tay ba toán biệt kích. Họ biết rõ, sau khi thả toán biệt kích, ít lâu sau phải thả dù tiếp tế cho biệt kích. Ðịch quân ép buộc hoặc thuyết phục hiệu thính viên biệt kích làm việc với họ báo cáo về Saigon là toán vẫn an toàn. Kết quả miền bắc lấy được đồ tiếp liệu cho các toán biệt kích bị bắt và tóm luôn những toán sẽ được thả trong tương lai.
Ðúng 12 giờ trưa ngày 29 tháng Sáu, hơn một tháng sau khi xâm nhập, toán Castor gửi đi bức điện văn đầu tiên, họ được Saigon khuyến khích và hưá sẽ thả dù tiếp tế trong vòng bốn ngày. Chiều ngày 1 tháng Bảy, đồ tiếp liệu được chất lên chiếc C-47 bí mật trong phi trường Tân-Sơn- Nhất. Ðúng ra thiếu ta Kỳ lái chuyến này, nhưng giờ chót ông giao trách nhiệm cho trung-úy Phan Thanh Vân. Trên máy bay có thêm ba hạsĩ- quan thuộc liên-đoàn Quan Sát số 1, đi theo phụ giúp việc đẩy thùng tiếp liệu ra khỏi phi cơ.

Chiều hôm đó, sau khi lấy thêm nhiên liệu trong phi trường ngoài Ðà-Nẵng, chiếc C-47 bay theo phi trình thả toán Castor và Dido. Trên bãi thả, công an vũ-trang đã bao vây, đợi chuyến thả tiếp tế cho toán Castor. Nơi Hòn Ne cách bờ biển Ninh Bình chừng sáu cây số, công an, quân đội nghe tiếng động cơ máy bay. Chiếc C-47 như thường lệ bay thấp để tránh radar, bị súng cao xạ từ Hòn Ne bắn lên trúng đạn và rớt xuống một bãi ruộng chừng hai mươi cây số trên đất liền.

Kenneth Conboy, Dale Andrade, United Press, 2000.
Bạch-Hổ

Chiến Tranh Ngoại Lệ 3



Sau vụ bắn rơi chiếc C47, bắt sống bẩy người trong đó có phi công PhanThanh-Vân, Hà-Nội lỡ đã công bố trên đài phát thanh, báo chí nên không thể dấu diếm. Ít ra viên phi công hoặc cả bẩy quân nhân biết rằng phi vụ của họ là tái tiếp tế cho toán biệt kích Castor. Nếu họ khai trước tòa án, Bắc Việt biết rằng có toán biệt-kích hoạt động trong tỉnh Sơn-La. Ðồng thời Saigon biết toán Castor đã bị bắt. Tuy nhiên Hà-Nội dựng nên một chuyện khác, chỉ có ba người bị đưa ra tòa án trong tháng Mười Một, bốn quân nhân khác đã chết vì vết thương. Trước tòa cả ba nhận tội có liên quan đến vấn đề biệt-kích... và trên đường đến tỉnh Hòa Bình chứ không phải Sơn-La. Ðến cuối năm, CIA và Saigon vẫn tin rằng toán biệt kích Castor vẫn còn hoạt động hữu-hiệu. Trong Saigon, trung-tá Tung cảm thấy hài lòng, chuẩn bị thả thêm biệt kích ra ngoài bắc. Bây giờ cơ quan CIA phải tìm phương tiện khác
(chiếc C-47 duy nhất dã bị bắn rơi). Họ không thích loại phi cơ C-47 với hai lý-do, chiếc C-47 tầm hoạt động ngắn do đó chiếc máy bay phải bay thẳng đến mục tiêu. Thứ hai, máy bay phải lấy thêm nhiên liệu ngoài Ðà-Nẵng, biết đâu điệp viên Bắc Việt đã xâm nhập vào trong phi trường Ðà-Nẵng? Cuối cùng họ chọn máy bay C-54 và huấn luyện hoa tiêu Việt-Nam, các phi công tình nguyện hoàn tất khoá huấn luyện đầu năm 1962.

Phòng 45 chuẩn bị toán biệt kích Europa gồm năm quân nhân sắc tộc Mường. Ngày 20 tháng Hai họ phát xuất từ phi trường Tân Sơn Nhất do trung tá Nguyễn-Cao-Kỳ lái, không ghé Ðà-Nẵng như những phi vụ trước đây. Khi vào đến không phận tỉnh Hòa-Bình nơi có nhiều dân tộc Mường, đến bãi thả dù, ông Kỳ bật đèn xanh và năm biệt-kích Mường biết mất vào màn đêm.

Ðịa điểm thả toán biệt kích Europa trong quận Tân-Lạc là điều không nên (bad choice). Ðường số 6 chạy xuyên qua giữa quận, có nhiều đường nhỏ đi vào và nhiều làng mạc. Một lần nữa toán biệt kích bị lộ lúc đang nhẩy dù xuống bãi đáp. Sáng hôm sau, công an vũ trang phối hợp với tự vệ, khoá sinh đang thụ huấn biên phòng, truy lùng toán biệt kích. Tất cả bị bắt ngày hôm sau.

Hiệu thính viên toán Europa bị ép buộc gửi báo cáo về Saigon, toán đã đến mục tiêu an toàn. Phòng 45 phấn khởi, chuẩn bị tái tiếp tế cho toán Castor, lúc đó đã nằm vùng gần mười tháng. Họ hy vọng rằng với loại máy bay C-54 mới, lần này sẽ gặp may. Chuyến đi này do đại-úy Hội lái, chiếc C-54 bí mật chở đồ tiếp liệu cất cánh từ Tân Sơn Nhất bay đi Sơn-La. Trước khi đến mục tiêu, chuyện xui-xẻo lại xẩy ra, gặp một cơn giông lớn, chiếc máy bay đâm vào núi.

Trong Saigon, mấy tay Xiạ (CIA) trong ban kế hoạch hết sức mất-mặt, mất hai máy baytrong vòng bẩy tháng. Ðiều hơi mừng là điện văn bắt được của Hà-Nội cho biết do lỗi lầm của viên phi công gây nên tai nạn và họ không để-ý đến chuyện mất mát đó (?). Cũng vì vậy ban tham mưu trong Saigon vẫn còn tin tưởng nơi toán biệt kích Castor (vẫn còn hoạt động).

Cơ-quan CIA lại phải tìm chiếc máy bay khác. Lần nàyhọ liên lạc với Ðài-Loan với kinh nghiệm thả điệp viên xâm nhập Hoa-Lục từ năm1952. Nhiều hoa tiêu Ðài Loan tình nguyện bay những phi vụ bí mật xâm nhập Bắc Việt. CIA cũng xắp xếp cho phi công từ Air-America (CIA) qua Ðài Loan huấn luyện những phi công tình nguyện về kỹ thuật bay ở cao độ thấp. Trong khi huấn luyện cho phi công Ðài-Loan, CIA và phòng 45 chuẩn bị cho toán biệt kích kế tiếp. Toán mới này có mật hiệu là Atlas gồm bốn người quê-quán trong tỉnh Nghệ-An, cả bốn được đưa vào trú trong nhà an-toàn nơi Saigon để huấn luyện. Toán Atlas có nhiệm vụ xâm nhập tỉnh Nghệ-An gần đường số 7. Cũng như toán Echo trước đây, họ sẽ dò thám mức độ di chuyển của địch qua đất Lào và bắt liên lạc với hai linh mục công-giáo, nhờ giúp đỡ che chở.

Trong tuần lễ đầu tiên trong tháng Ba năm 1962, toán Atlas được đưa qua Thái-Lan. Các phi công Tầu vẫn chưa xong khóa huấn luyện nên CIA xử dụng trực thăng của Air-America đưa toán biệt kích đến biên giới Lào và Nghệ-An, và toán sẽ di chuyển bộ đến mục tiêu. Xế chiều ngày 12 tháng Ba, toán Atlas lên đường cùng với đồ tiếp liệu trên hai chiếc trực thăng H-34, thêm một chiếc hộ tống.

Theo máy bay hướng dẫn, trực thăng thả toán biệt-kích lúc trời sắp tối trên một ngọn núi sát biên giới. Toán Atlas mặc bà-ba đen, võ trang tiểu liên Stern (theo tiêu chuẩn CIA, dùng đồ không phải của Hoa-Kỳ). Sau ba ngày di chuyển về hướng đông (Nghệ-An, Việt-Nam) không gặp trở ngại, đến ngày thứ tư họ gặp một trẻ em. Theo lời một toán viên kể lại 'Ðứa bé biến vào rừng nhanh như chớp!'. Sau đó đơn vị an ninh đến bao vây toán Atlas, một người trúng đạn chết. Trên đường chạy trở lại qua đất Lào, thêm một người nữa dẫm phải mìn chết. Còn lại hai người, gọi máy báo cáo không được vì thời tiết xấu, cuối cùng cả hai bị bắt.

Rút kinh nghiệm, CIA tiếp tục thả biệt kích ra ngoài bắc. Lần này xử dụng phi cơ C-46 phát xuất từ căn cứ không quân Takhli bên Thái-Lan, họ được đại-úy Ron Sutphine cùng với đại-úy M. D. 'Doc' Johnson bay trước hướng dẫn vào bãi thả dù. Toán kế tiếp là toán Remus gồm sáu ngườisắc tộc Thái Ðen. Cũng như toán Dido gồm những quânnhân sắc tộc Thái Ðen trước đây, toán Remus sẽ nhẩy xuống vùng thung-lũng Ðiện Biên-Phủ trong tỉnh Lai-Châu. Không phải vì là căn cứ quânsự
lớn nhất trong vùng tâybắc, cùng với sự hiện diện của sư-đoàn 316, ngoài ra sư đoàn này thường có những hoạt động trên đất Lào.

Toán Remus đề phòng bị lộ, sẽ nhẩy dù xuống khu vực gần biên giới rồi xâm nhập bằng đường bộ đến mục tiêu. Ngày 16 tháng Tư, sáu biệt-kíchnhẩy dù xuống cách ÐiệnBiên-Phủ mười lăm cây số về hướng tây bắc an toàn. Toán Remus gom lại và năm hôm sau, báo cáo về Saigon họ bắt đầu vượt biên giới xâm nhập vào miền bắc. Sau khi thả toán Remus thành công, phòng 45 quay trở lại làm việc với toán đầu tiên Castor. Cuối tháng Tư, toán Castor được lệnh di chuyển từsông Ðà về phiá nam đến quân Mộc-Châu. Tại đó toán sẽ nhận đồ tiếp liệu mới cùng với toán Tourbillon xuống tăng cường. Không như những toán trước đây, toán Toubillon gồm bốn sắc tộc khác nhau trong đó ít nhất hai người không phải sắc dân thiểu số. Nhiệm vụ cho toán Tourbillon cũng khác, không phải thâu thập tin tức mà đột-kích, tấn công chớp nhoáng phá hoại.

Tháng Năm trước đó, tổng thống Kennedy đã nhiều lần ra lệnh cho các giới chức lãnh đạo Hoa-Kỳ, cho các toán biệt kích hoạt động nơi miền Bắc thêm công-tác phá hoại. Tình hình bên Lào trở nên bết, thành phố Nam-Tha bị quân cộng-sản Pathet Lào chiếm với sự hổ trợ của vài tiểu đoàn Bắc Việt.

Toán Tourbillon sẽ nhẩy dù xuống những ngọn đồi nơi phiá bắc quận Môc-Châu rồi di chuyển sáu cây số về hướng nam tới đường số 6. Toán biệt kích sẽ phá sập mấy cây cầu trên đường số 6, ngăn chặn đường tiếp vận của BắcViệt từ Ðiện-Biên-Phủ quaLào. Ðiều này sẽ làm cản trở sự giúp đỡ quân cộng sản Pathet Lào, áp lực bên Lào sẽ nhẹ đi. Trước đây Lansdale đã phát biểu, nằm vùng trong một xãhội quản chế nghiêm khắc đã khó, chuyện phá hoại kể như quá khó khăn cho những quân nhân biệt kích trẻ.

Phòng 45 tiếp tục tuyển mộ tình nguyện quân trong liên-đoàn Quan-Sát số 1 bấy giờ đã đổi tên thành liên-đoàn 77. Bẩy người được chọn, tất cả đã qua lớp huấn luyện nhẩy-dù và biệtđộng, người hiệu thính viên cũng đã có kinh nghiệm vượt biên qua Lào hai lần. Ðến tháng Năm, quân-đội Hoàng-Gia Ai-Lao đang bại trận, trước khi quân cộng sản tấn công Nam-Tha. Toán Tourbillon ra đi bốn lần đều phải quay trở lại vì lý do thời tiết, vẫn nằm chờ trong phi trường Tân-Sơn-Nhất khi Nam-Tha thất thủ ngày 9 tháng Năm. Một tuần sau toán Tourbillon ra đi, trên máy baydo phi công Ðài-Loan lái, những phi công này bị bắt buộc để lại tất cả giấy tờ tùy thân trước khi lên máy bay.

Ðến điểm hẹn với toán Castor, các biệt kích Tourbillon nhẩy dù xuống không biết ở dưới ngoài toán Castor còn có thêm ít nhất một đại đội công-an vũ-trang cùng với chó săn. Hôm đó gió thổi mạnh, các biệt kích quân trôi dạt đi, đơn vị công-an đuổi theo. Người toán phó bị vướng trên một ngọn cây và bị bắn chết trên cây, các biệt kích quân khác chạy tìm lối thoát khi xuống tới đất, hai hôm sau tất cả đều bị bắt.

Nhân viên truyền tin bị côlập ngay tức khắc, Bắc Việt ép buộc phải báo cáo xuống mục tiêu an toàn. Phòng 45 tin tưởng rằng bãi đáp đã được toán Castor an-ninh nên rất tin, mặc dầu sau mười một ngày bị điều tra, ép buộc người tín hiệu viên mới gủi đi bản báo cáo đầu tiên. Bốn hôm sau khi toán Tourbillon nhẩy dù xuống Mộc-Châu, toán biệt-kích kế tiếp mật hiệu Eros lên phi cơ C-54 trong phi trường TânSơn-Nhất.

Chuyến đi này, phi công bay theo đường vòng qua đất Lào, xâm nhập không
phận tỉnh Thanh-Hóa thả toán biệt-kích chớp nhoáng rồi bay về. Vấn đề xẩy ra quá nhanh, quân Bắc Việt chưa đề phòng, chuyến xâm nhập coi như thành công. Xuống tới đất, toán Eros gom lại an toàn, Họ gồm năm người thuộc sắc tộc Mường và Thái Ðỏ, cả hai sắc dân thiểu số đều sống nơi phiá tây tỉnh Thanh-Hoá. Toán này có điều lạ, trong ba người Mường, hai người là anh em, người thứ ba là anh em họ. Hai người Thái là chú cháu. Phòng 45 hy vọng sợi giây liên hệ sẽ làm toán gắn bó và họ dễ móc nối những người cùng sắc tộc với họ.

Sau ba tuần lễ trong rừng, vài người Thái trông thấy toán biệt kích. Hốt hoảng, toán Eros chạy lên hướng bắc. Mấy người Thái quay trở lại tìm thấy mấy lon đồ hộp lạ, không phải sản-xuất ở miền Bắc. Họ bèn báo cáo chuyện xẩy ra lên công-an điạ phương. Trong khi đó toán Eros trên đường chạy đã gần hết lương thực, Saigon trả lời vì thời tiết xấu, chưa tiếp tế được.

Các biệt kích quân phải tìm đồ ăn cho họ. Ngày 2 tháng Tám, một lần nữa họ bị dân làng phát giác và cuộc truy lùng tiếp diễn. Lần này phòng 45 nhận được công điện khẩn của toán Eros rằng đang bị truy lùng. Ngày 29 tháng Chín, toán biệt-kích bị bao vây, một người trúng đạn chết, một bị bắt. Ba người kia chạy thoát nhập vào mấy người Lào đi săn bắn. Họ bị phản bội, bắt sống giao nộp cho quân Bắc Việt.

Kenneth Conboy, Dale Andradé, United Press
Bạch-Hổ

Chiến Tranh Ngoại Lệ 4


Khi mặt trời nhô lên ngoài khơi vịnh Bắc Phần, đoàn tầu túa ra biển đông, đi đánh cá gần miệngsông Gianh cách Đồng Hới tỉnh cực nam của miền Bắc khoảng bốn mươi cây số. Từ biển đi sâu vào sông Gianh khoảng chừng cây số có căncứ hải-quân Quảng-Khê. Đây cũng là nơi phát xuất của lực lượng Phòng-Vệ Duyên-Hải Bắc Việt.

Ngày 16 tháng Năm năm 1962, khung cảnh có vẻ như bình thường. Không ai biết dưới mặt nước biển, có một chiếc tầu ngầm đang dò thám ngoài khơi, chiếc tầu tên Catfish của hải-quân Hoa-Kỳ. Chiếc tầu ngầm này đã hoạt động nhiều năm trong vùng biển Tầu, Việt-Nam. Lần này chiếc Catfish để ý những chiếc tốc đỉnh võ-trang Swatow của miền Bắc. Chiếc Swatow dài 83 bộ (feet), trang bị ba đại bác 37 ly, thêm hai khẩu 14,5 ly hai nòng. Với ba mươi thủy thủ đoàn, chiếc Swatow có thể chạy với tốc độ hai mươi tám knots mỗi giờ, trang bị thêm radar tìm những chiếc tầu vượt tuyến.

Được biết trong căn cứ có ba chiếc Swatow đang bỏ neo, chiếc tầu ngầm Catfish xác định tin tức và báo cáo về Manila, Phi-Luật-tân rồi đến văn phòng CIA tại Saigon. Cơ quan này liền phác hoạ kế hoạch cho biệt-hải phá hủy mấy chiếc tốc đỉnh của hải quân Bắc Việt.

Trong tháng Tư 1962, phòng 45 lập toán bốn cảm-tử quânngười nhái do Đài-Loan huấn luyện, biệt danh Vulcan. Họđược đưa đến Đà-Nẵng huấn luyện cách đặt mìn phá tầu. Sau khi được xác định mục tiêu (do Catfish), toán người nhái Vulcan cùng với mười thủy thủ lên chiếc Nautilus 2, hướng ra hải phận miền bắc. Chiếc Nautilus 2 thả neo ngoài khơi trước cửa miệng sông Gianh, để cho bốn cảm tử quân chèo xuồng vào bờ thám thính. Bốn người này quay trở về báo cáo, rất yênlặng.


Đại-úy Hà-Ngọc-Oanh bí danh Antoine đã phục vụ hai năm trong phòng 45, nhận lệnh cho tấn công những chiếc tốc đỉnh Swatow ngày 28 tháng Sáu. Trong phần thuyết trình hành quân, có thêm hai nhân viên CIA với ảnh chụp căn cứ hải-quân Quảng-Khê.Đại-úy Oanh trình bầy kế hoạch đi, tấn công và đường rút lui cho các cảm tử quân nghe.

Theo kế hoạch, các cảm tử quân từ chiếc Nautilus 2 xuống xuồng gỗ chèo vào bờ theo cửa sông Gianh. Vì chỉ có ba chiếc Swatow trong bến, người nhái thứ tư là Nguyễn-Chuyên ở lại giữ xuồng và làm trừ bị. Ba cảm tử quân trong bộ đồ người nhái sẽ bơi vào bờ gắn mìn ba chiếc Swatow rồi rút êm. Sau đó mọi người ăn nhậu tiễn đưa đến khuya, rồi những người đi công tác được đưa vào khu cấm riêng biệt để bảo toàn bí mật.
Đúng 8:30 tối ngày 29 tháng Sáu, toán biệt hải lên tầu ra đi. Đến đêm hôm sau họ nằm ngoài khơi hải phận miền Bắc, và tiến tới mục tiêu. Trước nửa đêm ngày 30, chiếc Nautilus 2 tắt cả hai máy, hạ chiếc xuồng gỗ gắn động cơ xuống nước. Các cảm tử quân trèo xuống lặng lẽ cho xuồng chạy vào bờ. Mười lăm phút sau, Lê-Văn-Kính có thể thấy cửa miệng sông Gianh. Toán người nhái dự trù sẽ thi hành xong công tác trong vòng hai tiếng đồng hồ, đủ thì giờ bơi vào, đặt mìn rồi bơi trở lại xuồng. Kính kéo kính che mắt xuống rồi tụt xuống nước, người nhái cuối cùng xuống nước là Nguyễn-Hữu-Thao. Trên bong chiếc Swatow 185, nhân viên canh gác nghe tiếng
động do chân vit quạt vào nước. Tiếp theo là hạm-trưởng Hồ-Ngọc-Minh dẫn mấy
thủy-thủ chạy xuống cuối thân tầu quan sát. Dưới nước Nguyễn-Hữu-Thao đang gắn
quả mìn dưới lườn tầu. Nghe tiếng chân người chạy trên bong, anh ta hốt hoảng, xẩy
tay và quả mìn phát nổ, Thao chết ngay tức khắc.

Kính đã đặt xong quả mìn, anh bơi ra xa khỏi chiếc Swatow chừng hai mươi
thước, trồi lên khỏi mặt nước đúng lúc quả mìn của Thao phát nổ. Sức nổ làm anh ta tức ngực, chân tê đi, trôi dật dờ trên mặt nước. Kính trông thấy chiếc Swatow bị hư hại nặng, và biết rằng lính Bắc Việt sẽ tràn ra đầy căn cứ trong giây lát. Kính ráng bơi vào bờ sông rồi chui vào bãi sậy nằm trốn, anh hy vọng khi êm xuôi sẽ tìm cách bơi vào miền nam. Chuyện đó không xẩy ra lâu, lính Bắc Việt tìm thấy anh ta và lôi lên từ bãi sậy.

Ngoài xuồng đợi, Nguyễn Chuyên cùng hai người lái xuồng hoảng hốt trông thấy
quả mìn nổ. Quân Bắc Việt trông thấy chiếc xuồng nhỏ đợi ngoài xa họ cho tầu đuổi
theo, chiếc xuồng nhỏ chạy ra khơi hướng về chiếc Nautilus 2. Khi đến được chiếc
Nautilus 2, Chuyên trúng đạn bị thương. Người nhái thứ ba Nguyễn-Văn-Tâm cũng không may cho lắm. Sau khi đặt mìn, anh bơi trở lại xuồng, rồi quả thứ nhất phát nổ, chiếc xuồng dọt mất và Tâm bị bỏ rơi. Tìm cách khác, anh bơi tìm một chiếc xuồng khác của thường dân, định chạy về miền nam. Khi leo lên tầu anh rơi vào tay lực
lượng tự vệ điạ phương, địch đã báo động khắp nơi.

Căn cứ hải quân Quảng-Khê nổ bùng lên, chiếc Swatow 185 chìm ngay. Trong lúc hỗn
loạn, chiếc Swatow 161 chạy ra biển đuổi theo chiếc xuồng nhỏ đến chiếc Nautilus 2.
Trên tầu Nautilus 2, thủy thủ ráng chống cự với đại liên rồi tháo chạy về hướng nam. Đến 6:00 giờ sáng, chiếc Nautilis 2 bị trúng đạn hư máy nằm chờ chết. Chiếc Swatow bắn chiếc Nautilus 2 tan tành, người nhái Nguyễn Chuyên thoát chết đợt đầu cũng hy sinh cùng với một thủy thủ. Sau khi chiếc Nautilus 2 chìm, mười người sống sót được chiếc Swatow vớt lên bắt làm tù binh.

Thêm một người nữa Nguyễn-Văn-Ngọc vẫn còn trốn trên chiếc tầu đang chìm, không ai hay biết. Sau khi chiếc Swatow đi khỏi, anh Ngọc trôi dật dờ qua vĩ tuyến mười bẩy và được phi cơ tuần tiễu trông thấy cứu sống. Ngày 21 tháng Bảy, Hà-Nội đưa toán biệt kích hải quân ra tòa, lần thứ hai họ xử án biệt kích. Có người bị tù chung thân. Bị thất bại, phải đến năm sau cơ quan CIA mới tổ chức lại được những trận đột kích phá hoại trong vịnh Bắc Bộ.

Đến cuối mùa hè 1963, toán huấn luyện người nhái SEAL của hải-quân Hoa-Kỳ đã huấn luyện xong cho bốn toán biệthải Việt-Nam. Mỗi toán được tuyển mộ gồm dân sự và mấy hạ-sĩ-quan trong lục quân VNCH. Trong bốn toán, Neptune là toán người nhái, toán Cancer gồm toàn quân nhân sắc tộc thiểu số Nùng tuyển mộ từ sư-đoàn 5 bộ binh. Người tổ chức các toán biệt hải là Gougleman, ông ta yêu cầu được cung cấp loại tầu tốt hơn, chạy nhanh hơn, hỏa lực mạnh hơn để tránh chuyện thảm-hoạ xẩy ra như chiếc Nautilus 2 trong năm trước đây.

Do sự yêu cầu, hải quân Hoa-Kỳ bàn giao hai chiếc tầu tuần tiễu phóng thủy lôi
PT-810, PT-811 cho đơn vị biệt hải (Marops / Maritime Operation/Hành quân biển).
Hai chiếc này đến Đà-Nẵng được đổi tên là PTF-1, PTF-2. Trong khi đó cơ-quan CIA
không đợi sự chấp thuận, đặt mua hai chiếc Nasty của Na-Uy đem về đặt tên là PTF-3, PTF-4. Thêm vấn đề nhân lực, cơ quan CIA thuê người Na-Uy để lái tầu vì người Hoa-Kỳ không được phép ra đến hải phận miền bắc. Ba thủy thủNa-Uy đến Đà Nẵng với công-tra sáu tháng, họ có biệt danh là Viking. Theo đại-úy Trương-Duy-Tài một sĩ quan trong đơn vị biệt-hải, người 'Viking' sống rất hợp với thủy thủ Việt-Nam và rất rành đi biển.

Ngày 15 tháng Mười Hai, một chiếc PTF hướng ra miền bắc, đem theo toán người nhái Neptune. Trước khi đến mục tiêu, chiếc tầu bị lạc hướngphải quay về Đà Nẵng, hủy bỏ chuyến công tác. Cơ quan CIA đợi qua năm mới, ngày 14 tháng Giêng năm 1964 thực hiện hai mục tiêu cùng lúc. Hai chiếc Swift rời bến chạy song song cho đến vĩ tuyến 17 tẽ ra, một chiếc hướng về nhà máy dọc theobãi biển gần Đồng-Hới. Chiếc thứ hai tiếp tục chạy thêm mười tám cây số tới sông Ron trong tỉnh Quảng Bình.

Toán biệt hải tấn công Đồng Hới có biệt danh Zeus không gặp trở ngại. Họ đến đúng lúc mặt trời lặn, toán biệt hải chèo xuồng cao-su vào bờ. Trên bờ họ đặt dàn hoả tiễn
nhỏ, đặt giờ nổ do CIA chế bìến hướng vào nhà máy rồi rút êm trở lại chiếc Swift.
Trước khi quay về họ thả thêm mấy thùng truyền đơn đả phá chế độ cầm quyền
ngoài Bắc xuống biển để sóng đánh trôi vào bờ.

Toán thứ hai biệt danh Charon không được may. Khi chiếc Swift còn cách mục tiêu chừng mười chín cây số, viên thuyền trưởng người Na-Uy trông thấy có chiếc tầu từ
hướng bắc chạy về phiá ta. Chiếc Swift chạy quanh co để tránh cho đến khi mất bóng
chiếc tầu lạ, rồi tiếp tục đến tục tiêu, họ đã chậm mất tiếng đồng hồ.

Sau khi biểu quyết tiếp tục nhiệm vụ, người trưởng toán ra lệnh cho toán Charon xuống xuồng cao-su. Khi gần đến cửa sông Ron, các người nhái đi chân nhái rồi bơi vào. Một cặp hai người sẽ bơi vào bờ phiá bắc, cặp khác đến bờ phiá nam giòng sông. Một cặp bất ngờ gặp phải một chiếc tầu đi ra. Vì lòng sông cạn, nhiều sình. Hai người nhái sợ người trên tầu trông thấy vội vã bơi trở lại chiếc xuồng cao su đang đợi nơi cửa biển. Cặp người nhái thứ hai biến mất, không thấy trở lại. Vị thuyền trưởng Na-Uy vẫn ráng đợi cho đến khi mặt trời lặn. Lúc nổ máy, bỗng ông ta trông thấy có đèn hiệu chiếu ra từ bờ, liều mạng viên thuyền trưởng can đảm lái luôn chiếc Swift chạy vào bờ, vớt lên hai người nhái mất tích ban chiều. Nhiệm vụ đã xong, họ hướng về căn cứ xuất pháttrong Đà-Nẵng.

Kenneth Conboy, Dale Andradé, United Press, 2000
Bạch-Hổ

Chiến Tranh Ngoại Lệ 5



Bản tuyên ngôn Geneva về vấn đề trung-lập hóa Ai-Lao sẽ có hiệu lực kể từ ngày 6 tháng Mười năm 1962. Chánh quyền của tổngthống Kennedy ngưng tất cả mọi hoạt động bí mật, các toán biệt-kích nằm vùng ngoài Bắc được lệnh nằm chờ thời và tạm ngưng tất cả các hoạt động phá hoại.

Sau vụ bắn rớt chiếc máy bay C-123 của hãng hàng không Air America ngày 22 tháng Mười Một. Chiếc máy bay này chở đồ tiếp tế nhân đạo cho dân Lào chứ không có mục đích quân sự nào làm chính quyền Kennedy nổi giận. Cơ quan CIA và phòng 45 được lệnh tiếp tục các hoạt động bí mật tại Bắc Việt-Nam. Toán Toubillon trong tháng Bẩy trước đây đã báo cáo đánh xập một cây cầu.
Đầu tháng Mười Hai, toán được lệnh làm 'cú nữa', một cây cầu khác cách cây cầu trước khoảng mười hai cây số về hướng tây. Ngày 8 tháng Mười Hai, Toubillon báo cáo đã làm xong nhiệm vụ.

Thấy toán Tourbillon thành công, Saigon chuẩn bị toán biệt kích kế tiếp. Toán Lyre có
nhiệm vụ phá hoại và lấy tin tức. Toán Lyre tuyển mộ những người theo đạo công
giáo như hai toán thất bại trước đây Echo và Atlas. Toán Lyre sẽ được thả vào khu vực
gần đèo Ngang. Nơi này gần biển, CIA xử dụng tầu đổ bộ từ biển vào thay vì thả dù như những toán biệt-kích khác. Ngày 29 tháng Mười Hai, lúc đổ bộ, toán biệt kích đã bị một trạm kiểm soát đặt nơi bãi biển phát giác. Năm người trong toán bị bắt ngày hôm sau, hai người còn lại định trốn về hướng nam, cũng bị bắt lại vào cuối tuần.

Toán biệt kích phá hoại đầu tiên trong năm 1963 là toán Tarzan. Gồm năm người, điạ bàn hoạt động trong quận Tuyên-Hoá tỉnh Quảng-Bình. Vùng này toán Echo đã nhẩy
dù xuống cách đó hai năm.Đêm 6 tháng Giêng, các biệt kích quân lên máy bay C-54 do phi công Đài-Loan lái cất cánh từ phi trường Tân-Sơn-Nhất. Chuyến thả biệt kích thành công, ít hôm sau, Tarzan lên máy báo cáo về Saigon.

Ngày 12 tháng Tư, sáu biệt kích sắc tộc Thổ trong toán Pegasus nhẩy dù xuống tỉnh
Lạng-Sơn. Nhiệm vụ của họ phá hoại một trong hai thiết lộ chính chạy từ biên giới Hoa-Việt tới Hà-Nội. Trong Saigon CIA ngồi đợi báo cáo của toán Pegasus, kết quả biệt tăm. Tháng sau, một toán biệt-kích khác nhẩy ra bắc cũng mất tích luôn.

Không đếm xiả đến những toán mất tích. Cơ-quan CIA tổng tấn công, thả ba toán
cùng ngày 4 tháng Sáu. Chiếc C-54 không đủ sức chở ba toán biệt-kích cùng lúc, CIA
phải mượn thêm một chiếc C54 khác từ Đài-Loan xang trong vòng một tháng. Sáng
sớm ngày 5, cả hai chiếc C-54 trở về an toàn sau khi thả ba toán biệt kích ra ngoài miền Bắc. Tuy nhiên chỉ có toán Bell lên máy báo cáo về Saigon, hai toán kia bặt tin.

Ba hôm sau, CIA làm tiếp bản cũ, cho hai toán đi chung một chiếc C-54 thả trong tỉnh Ninh-Bình và Thanh-Hóa. Cả hai đều không liên lạc. Hai hôm sau, hai toán khác lên đường trên một chiếc C-54 nhẩy dù xuống vùng Hà-Tĩnh và Nghệ-An, cũng biến mất luôn.
Cơ quan CIA tìm loại máy bay khác để thay thế chiếc C54 trả lại Đài-Loan. Họ chọn
loại máy bay C-123 đuôi rộng hơn, toán biệt kích cùng thùng tiếp liệu có thể ra khỏi trong vòng vài giây, như vậy đỡ bị phân tán thất lạc. Những chiếc C-123 không phù hiệunày sẽ do phi công Đài-Loan lái đến Tân-Sơn-Nhất ngày 15 tháng Sáu.

Toán kế tiếp gồm tám biệt kích quân Việt-Nam mật hiệu Giant, lên chiếc C-123 vào
buổi tối. Chiếc máy bay cất cánh bay ra biển, hướng về vịnh Bắc Bộ, bay cắt ngang
thành phố Vinh ở ngoài Bắc đến vùng rừng núi nơi hướngtây. Đến mục tiêu, các biệt
kích trong toán Giant nhẩy ra và chiếc máy bay C-123 quay đầu xuôi về nam. Trong
Saigon, cơ quan CIA cố dò tìm làn sóng để nhận điện văn báo cáo của toán Giant nhưng hoài công. Tất cả đều êm lặng. Hai hôm sau, hai toán biệt kích khác đã sẵn sang lên đường. Toán thứ nhất gồm sắc tộc thiểu số mật hiệu Packer, sẽ xâm nhập vùng Yên-Bái. Hy vọng toán Packer sẽ thành công như toán Bell, toán duy nhất gửi điện văn về trong mùa hè. Cũng như toán Bell, Packer gồm năm biệt kích quân có nhiệm vụ phá hoại thiết lộ chạy xuyên qua tỉnh. Trưởng toán Packer là Ngô-
Quốc-Chung người sắc tộc Tày . Toán thứ hai gồm ba người sẽ nhẩy xuống tăng
cường cho toán Europa. Toán này đã nhẩy dù xuống vùng Hoà Bình mười bẩy tháng
trước đây. Lúc đó chiếc phi cơ C-54 đã hết thời gian hoạt động, tuy
nhiên họ muốn bay phi vụ chót. Chở cả hai toán đi thả, chiếc C-54 bay lên Yên-Báitrước. Đến bãi nhẩy, các biệt kích trong toáng Packer nhẩy dù xuống. Chiếc C-54 lượn vòng cung bay đi Hoà Bình, viên phi công bay thấp tránh mây và biến mất trước khi đến bãi thả toán biệt kích thứ hai. Toán Packer xuống tới đất cũng mất liên lạc với Saigon. Mất tích quá nhiều, Saigon chuẩn bị thêm một toán chót ra ngoài Bắc. Toán Dragon gồm toàn người sắc tộc Nùng, sẽ được đổ bộ bằng xuồng vào tỉnh Quảng Ninh, gần biêngiới Hoa-Việt. Đúng vào lúc thời tiết xấu, họ ra đi năm lần cùng ngày 15 tháng Bảy, bẩy người trong toán Dragon, bơi xuồng cao-su xâm nhập hải phận Bắc Việt. Từ đó họ biệt tăm.

Tính luôn toán Dragon, CIA đã thả ra ngoài bắc mười ba toán biệt-kích trong vòng bẩytháng. Đến tháng bẩy, chỉ có một toán báo cáo về Saigon., các toán còn lại coi như đã bị bắt. Ngày 9 tháng Bảy Hà-Nội loan tin xử toán biệt kích Pegasus, và thêm năm phiên toà xử biệt kích khác trong vòng ba tháng tới.

Rõ ràng là CIA đã thất bại xuống biệt kích trong việc thả các toán biệt kích ra miền Bắc. Một trong những lý do, bãi thả dù chọn không đúng. Nhiều toán nhẩy xuống quá gần nơi làng mạc và bị phát giác nhanh chóng. Thí dụ toán Tellus nhẩy xuống tỉnh Ninh-Bình ngày 8 tháng Sáu, bị phát hiện khi đang nhẩy dù xuống, cả bốn biệt kích trong toán bị bắt trong vòng hai mươi lăm phút. Toán Packer xui hơn, nhẩy
đúng vào giữa làng, nhân viên truyền tin rơi trúng nóc nhà dân làng. Tháng Mười Hai 1962, Hà-Nội xử dụng toán Europa làm mồi nhử trong lúc phối trí bốn ổ súng phòng không 14.7 ly trong khu vực đồi núi tỉnh HòaBình. Đêm 10 tháng Tám, phicông Đài-Loan lái C-123 bay đi thả tiếp tế cho toán Europa. Trên mục tiêu, từ xa viên phi công trông thấy đèn thắp sáng theo hình chữ 'T'. Bỗng dưng đạn phòng không từ dưới đất bắn lên trúng nhiều chỗ trên thân phi cơ, nhưng viên phi công vẫn lái về an toàn. Về đến Saigon, vẫn còn sợ, viênphi công Đài-Loan xin nghỉ, chê tiền Đô-la Hoa Kỳ và dông thẳng một mạch về Đài Loan. Phi hành đoàn người Tầu cũng sợ, họ từ chối bay tiếp tế cho toán Europa trong tỉnh Hòa Bình.

Kenneth Conboy, Dale Andradé, United Press, 2001.
Bạch-Hổ